Phan T phạm tội gì?

Thứ sáu - 30/05/2014 06:17

 

Trong giải quyết án hình sự, việc định tội danh có ý nghĩa quan trọng, là tiền đề để phân hóa trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt. Định tội danh chính xác giúp giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật, tránh được oan, sai; góp phần giải quyết vụ án hình sự một cách công bằng, chính xác, đồng thời làm cơ sở cho việc áp dụng hình phạt và các biện pháp ngăn chặn, xác định thẩm quyền điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, bảo vệ pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mọi công dân. Việc định tội danh sai sẽ dẫn đến hậu quả rất lớn, đặc biệt là không đảm bảo được tính có căn cứ của hình phạt được tuyên, xét xử không đúng người đúng tội, không đúng pháp luật. Thực tiễn xét xử các vụ án hình sự cho thấy, các cơ quan tiến hành tố tụng còn gặp phải nhiều khó khăn, vướng mắc trong việc định tội danh, đặc biệt đối với những vụ án mà hành vi phạm tội của bị can, bị cáo không thể hiện các yếu tố cấu thành tội phạm một cách đặc trưng, rõ ràng mà hành vi của người phạm tội lại có nhiều yếu tố khác nhau của các tội phạm khác nhau. Đối với những vụ án thuộc những trường hợp này, đòi hỏi những người tiến hành tố tụng phải hết sức thận trọng trong định tội, phải dựa trên cơ sở đánh giá, phân tích, tổng hợp từng yếu tố của vụ án, áp dụng các văn bản pháp luật liên quan một cách chính xác thì mới định tội danh đúng.

Dưới đây là một vụ án cụ thể và một số quan điểm khác nhau xung quanh việc định tội danh:

Nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khi đang ngồi nhậu với L, H thì T gọi điện thoại rủ chị A là người quen của T đến cùng nhậu. Chị A đồng ý và điều khiển xe xe mô tô nhãn hiệu Attila, màu sơn trắng mang BKS 92N8-... thuộc quyền sở hữu của chị A đến rồi cùng nhậu với T, H, L. Khoảng 20 phút sau thì T nói với chị A “Chị cho em mượn chiếc xe đi xuống ngã ba mua cái card điện thoại” (ngã ba cách nơi ngồi nhậu khoảng 200m). Chị A đồng ý và giao chìa khóa xe cho T và T điều khiển xe xuống ngã ba mua card điện thoại, sau đó T điều khiển xe ra thành phố N chơi mà không về trả xe cho chị A. Lúc đến thành phố  N, T ghé vào cây xăng để đổ xăng. Khi mở cốp xe ra, T phát hiện bên trong cốp xe của chị A có số tiền 5.500.000đ. T lấy số tiền trên sử dụng vào việc tiêu xài cá nhân. Khi hết số tiền này, T nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe máy của chị A. Do có quen biết từ trước nên T gọi điện thoại cho X mượn số tiền 8.700.000đ. Để tạo sự tin tưởng cho X, T viết giấy bán xe mô tô BKS 92N8-... của chị A cho anh X với số tiền 10.000.000đ và T nói với X là xe của chị gái mình. Sau đó, khi X điều khiển xe mô tô nói trên chở T đi chơi thì bị Công an quận C, thành phố N lập biên bản tạm giữ do vi phạm luật giao thông đường bộ. Sau khi sự việc xảy ra, chị A không liên lạc được với T nên báo cáo với Công an yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật, yêu cầu trả lại xe và trả lại tiền 5.500.000đ, còn T bỏ trốn khỏi địa phương. Theo kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, giá trị còn lại của chiếc xe mô tô nhãn hiệu Attila, loại xe nữ, màu sơn trắng, mang BKS 92N8-... là 9.200.000đ.

 Với nội dung vụ án nêu trên có các quan điểm khác nhau về tội danh của T, cụ thể như sau:

Quan điểm 1: T phải bị khởi tố về các tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản” mới đúng, vì:

Để lấy được tài sản, T đã thực hiện một cách kín đáo, che mắt người xung quanh cũng như người chủ tài sản bằng hành vi lấy xe đi cầm cố và lấy tiền trong cóp xe tiêu xài. Hành vi này thỏa mãn dấu hiệu “lén lút” chiếm đoạt tài sản của người khác trong cấu thành tội trộm cắp tài sản (Điều 138 BLHS năm 1999). Ngoài ra, dấu hiệu thứ hai trong cấu thành tội trộm cắp tài sản là dấu hiệu chiếm đoạt được thể hiện ở đây T đã dịch chuyển được tài sản trộm cắp là tiền trong cóp xe ra khỏi vị trí của tiền trong cóp và sự kiểm soát của người chủ tài sản, cho nên tội phạm được coi đã hoàn thành. Dấu hiệu lén lút đối với người chủ tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội trộm cắp tài sản. Tội phạm là thể thống nhất giữa mặt khách quan và mặt chủ quan.   ở đây, hành vi khách quan là hành vi trộm cắp tài sản, hoàn toàn thống nhất với ý định trộm cắp tài sản. Khi thực hiện hành vi phạm tội lấy tiền trong cóp xe, T không hề nghĩ đến việc lừa đảo. Mục đích phạm tội của T là chiếm đoạt tiền tiêu xài không có sự đồng ý của chủ sở hữu. Sau đó bằng thủ đoạn gian dối, lợi dụng sự tin tưởng của chủ sở hữu tài sản mà đã chiếm đoạt xe máy mà người chủ tài sản không hay biết (Hành vi này độc lập hoàn toàn với hành vi trộm tiền trong cóp xe, hơn nữa các hành vi trộm và lợi dụng tín nhiệm xảy ra ở hai thời điểm khác nhau, sự thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan của tội phạm trong lần sau đối với chiếc xe máy hoàn toàn độc lập với cấu thành tội phạm ở việc trộm tiền trong cóp xe trước đó). Như vậy, ngay từ trong ý nghĩ của T là độc lập: lấy tiền tiêu xài cá nhân xong (đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản) rồi lợi dụng sự tin tưởng của chủ sở hữu và bằng thủ đoạn gian dối đã cầm cố chiếc xe (thỏa mãn cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).

Quan điểm 2: T chỉ phải bị khởi tố về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” mới đúng, vì:

Khi phân tích các dấu hiện trong cấu thành tội phạm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS năm 1999) cho thấy dấu hiệu đặc trưng của tội phạm này là người phạm tội có hành vi gian dối để chiếm đoạt tài sản bằng cách người chủ tài sản tự nguyện trao tài sản. Theo đó, gian dối cần được hiểu là hành vi tạo thông tin giả nhằm đánh lừa người khác, hoặc thực hiện các thủ đoạn khác nhằm mục đích tạo lòng tin của người bị hại đối với người phạm tội về sự việc, thông tin không đúng sự thật nhằm cho người khác tin là sự thật để chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn rất đa dạng và khác nhau, có thể bằng lời nói, cử chỉ, sử dụng giấy tờ giả v.v.v  Cũng giống như các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt khác, hành vi chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu không thể thiếu của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Đó là hành vi cố ý dịch chuyển một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc cho người khác mà mình quan tâm. Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người phạm tội đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác. Cụ thể là người phạm tội đã đưa ra những thông tin không đúng sự thật làm cho chủ sở hữu tài sản hoặc người quản lý tài sản do nhầm tưởng mà tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu về tài sản hoặc chuyển giao quyền quản lý tài sản cho người phạm tội. Như vậy, thủ đoạn gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hai dấu hiệu là: một là Người phạm tội đã có hành vi gian dối như bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác nhằm cung cấp những thông tin sai lệch về sự việc (nói dối, trái sự thật, nói không thành có, nói ít thành nhiều, tẩy xoá con số để được nhiều hơn); Hai là Chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản đã nhầm tưởng, tin vào các thông tin không đúng sự thật đó nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản cho người phạm tội. Thỏa mãn hai yếu tố này mới cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Mặt khác, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định cụ thể là “người nào dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tải sản của người khác”, có nghĩa là người phạm tội chỉ chiếm đoạt được tài sản khi dùng thủ đoạn gian dối và chỉ dùng thủ đoạn gian dối mới chiếm đoạt được tài sản. Và đặc biệt trong tội lừa đảo, sau khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản một khoảng thời gian nhất định người quản lý tài sản mới phát hiện được là mình bị lừa đảo, người bị lừa đảo tự mình chuyển giao quyền quản lý tài sản hoặc chuyển giao quyền sở hữu về tài sản cho người thực hiện hành vi lừa đảo sau khi bị người phạm tội thực hiện hành vi gian dối (lừa đảo). ở đây các hành vi phạm tội của T lợi dụng sự tin tưởng của chị A để chị A giao chìa khóa xe, đưa ra thông tin sai sự thật làm cho người khác tin đó là sự thật là (lập hợp đồng để X tin tưởng đó là sự thật). Theo quan điểm này thì hành vi trộm cắp tài sản đã bị thu hút vào hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Quan điểm 3: T phải bị khởi tố về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” là đúng, vì:

Dấu hiệu để phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139) và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140) chính là hành vi khách quan

Cả 2 tội trên người phạm tội đều có thủ đoạn “gian dối” và hành vi “tự nguyện giao tài sản” (dựa trên sự tín nhiệm) của nạn nhân. Tuy nhiên, thời điểm xuất hiện thủ đoạn gian dối là khác nhau: - Đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139): Thủ đoạn gian dối xuất hiện ngay từ đầu, người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm làm cho người khác tin đó là sự thật nhằm chiếm đoạt tài sản. (Xuất hiện trước hành vi chiếm đoạt, nhưng trong vụ án này, Phan T có ý định phạm tội sau khi đã mượn được xe). vd: A thiếu tiền và tìm cách kiếm tiền nên đã nói dối B là mượn xe máy để đi về quê. A không về mà đi cắm xe ở hiệu cầm đồ. - Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140): Việc giao và nhận hoàn toàn ngay thẳng dựa trên hợp đồng (vay, mượn, thuê...) và sự tín nhiệm (người quen biết,...). Sau khi có được tài sản mới xuất hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn: + Không trả lại tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc thủ đoạn gian dối (bị mất, đánh tráo, cầm cố...); + Không trả lại tài sản do không có khả năng hoàn trả vì đã sử dụng vào mục  vào mục đích bất hợp pháp như: đánh bạc, cầm cố,... vd: A mượn xe B để về quê có hội, về tới quê A vào chơi bạc và bị thua nên đã cắm xe của B để lấy tiền đánh bạc. Hành vi trộm cắp tiền trong cóp đã bị thu hút vào hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là chiếc xe máy.

          Trên đây là nội dung tóm tắt của vụ án và các quan điểm khác nhau về việc định tội danh trong vụ án cụ thể, người viết mong nhận được những trao đổi khách quan để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.

 

Tác giả bài viết: Ngô Văn Khôi - TAND huyện Phú Ninh

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới



Những tin khác