Trao đổi bài viết: Nhận diện thủ tục giải quyết vụ việc Hôn nhân và gia đình theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015; một số vấn đề từ thực tiễn áp dụng và kiến nghị

Thứ hai - 16/10/2017 22:41
Trao đổi bài viết: Nhận diện thủ tục giải quyết vụ việc Hôn nhân và gia đình theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015; một số vấn đề từ thực tiễn áp dụng và kiến nghị
Theo các quy định của Bộ luật TTDS năm 2015 thì quy trình tố tụng dân sự tại Tòa án có sự thay đổi căn bản theo hướng bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật.
Việc ban hành Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã đánh dấu bước phát triển của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, khắc phục được tình trạng tản mạn mâu thuẩn, khiếm khuyết của các quy định tố tụng dân sự trước đây đồng thời cũng thể chế hóa được quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng pháp luật, cải cách tư pháp được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng. Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cần thiết cho Tòa án giải quyết nhanh chóng và đúng đắn các vụ việc dân sự; bảo đảm cho các cá nhân, cơ quan, tổ chức bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án. Theo các quy định của Bộ luật TTDS lần này, quy trình tố tụng dân sự tại Tòa án có sự thay đổi căn bản theo hướng bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật.
Trong bài viết: “Nhận diện thủ tục giải quyết vụ việc Hôn nhân và gia đình theo Bộ luật tố tụng dân sự 2015; một số vấn đề từ thực tiễn áp dụng và kiến nghị” của tác giả  Nguyễn Văn Dũng - Phó Chánh án TAND thành phố Tam Kỳ được đăng trên Cổng thông tin điện tử Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam ngày 07/9/2017, bài viết nêu ba phần: Phần I. Khái lược những quy định mới của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về thụ lý, giải quyết vụ việc Hôn nhân và gia đình sơ thẩm tại Tòa án; Phần II. Một số vướng mắc phát sinh từ thực tiễn thụ lý, giải quyết các vụ việc Hôn nhân và gia đình tại Tòa án. Phần III. Một số kiến nghị, đề xuất.
Chúng tôi thống nhất cao với tác giả về phần I. Tại đây tác giả đã nêu ra được những nắm bắt về nội dung cơ bản nhất được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để giải quyết một vụ việc Hôn nhân và gia đình.
Trong bài viết này, chúng tôi chỉ trao đổi một số nội dung phần II và phần III trong bài viết của tác giả nhằm làm rõ hơn những khó khăn, vướng mắc và kiến nghị, đề xuất trong quá trình giải quyết một vụ việc Hôn nhân và gia đình.
1. Để phân tích và làm rõ, nổi bật hơn những vướng mắc và kiến nghị, đề xuất có liên quan trong bài viết, trước hết chúng ta cần nhìn lại sự khác biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự là gì; đặc thù của vụ việc hôn nhân gia đình.
Trong các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự cũng như trong khoa học pháp lý, các giáo trình giảng dạy về tố tụng dân sự đều không nêu ra khái niệm về vụ án dân sự, việc dân sự. Tại Điều 1 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định:
“Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án nhân dân (sau đây gọi là Tòa án) giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự); trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự (sau đây gọi chung là vụ việc dân sự) tại Tòa án…”
Như vậy có thể thấy sự khác nhau cơ bản nhất và là điểm để phân biệt giữa vụ án dân sự và việc dân sự là yếu tố tranh chấp. Vậy tranh chấp là gì?
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, Nhà xuất bản văn hóa Sài Gòn  thì “Tranh chấp là 1. Giành nhau một cách giằng co cái không rõ thuộc về bên nào; 2. Đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên…”
Qua sự khác nhau cơ bản nhất này, chúng ta có thể rút ra cách hiểu chung nhất và các đặc điểm riêng như sau:
1.1 Vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định thì cá nhân, cơ quan, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Những đặc điểm cơ bản nhất của vụ án dân sự:
- Vụ án dân sự có tranh chấp xảy ra giữa các đương sự về quyền và nghĩa vụ dân sự.
- Chủ thể của vụ án dân sự tiến hành giải quyết vụ án bằng hình thức khởi kiện tại tòa.
- Vụ án dân sự giải quyết tranh chấp về các vấn đề dân sự giữa cá nhân, tổ chức này với cá nhân, tổ chức khác; có nguyên đơn và bị đơn; Tòa án giải quyết trên cơ sở bảo vệ quyền lợi của người có quyền và buộc người có nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
1.2 Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu tòa án công nhận cho mình quyền dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.
Những đặc điểm cơ bản nhất của việc dân sự:
- Việc dân sự không có tranh chấp với nhau về quyền và nghĩa vụ dân sự.
- Chủ thể của việc dân sự yêu cầu Tòa án công nhận quyền; công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự; Không có nguyên đơn và bị đơn trong việc dân sự mà chỉ có người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự.
- Từ yêu cầu của đương sự Tòa án sẽ công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý, mà từ sự kiện đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự; từ yêu cầu của đương sự Tòa án công nhận quyền và nghĩa vụ dân sự cho họ trên cơ sở các quy định của pháp luật.
1.3 Đặc thù của vụ việc hôn nhân và gia đình:
Tại Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 giải thích từ ngữ:
“1. Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn.
2. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”
Từ quy định và giải thích cơ bản đó cùng với thực tế cuộc sống chúng ta có thể rút ra những đặc thù riêng của những vụ việc hôn nhân và gia đình như sau:
- Những quan niệm, chuẩn mực đạo đức là tiền đề tư tưởng cho pháp luật. Tuy nhiên, không có vụ việc nào có mối quan hệ mật thiết với đạo đức như những vụ việc về hôn nhân và gia đình. Điều này cho thấy pháp luật hôn nhân và gia đình đã thừa nhận tập quán đạo đức, thuần phong mỹ tục trong quan hệ hôn nhân gia đình của người Việt Nam.
-  Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam giới và một người phụ nữ thành vợ chồng, quan hệ này dựa trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật.
- Gia đình là một khái niệm rộng hơn khái niệm hôn nhân. Gia đình là một hiện tượng xã hội, phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người trong đó hôn nhân là một trong những cơ sở để hình thành nên gia đình. Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau. Do vậy, gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau thì tính chất và kết cấu của gia đình cũng khác nhau.
- Tính chất đặc thù của vụ việc hôn nhân và gia đình, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ, chồng, con;
2. Trên cơ sở những lý luận nêu trên về tranh chấp, vụ án dân sự, việc dân sự, những đặc thù của vụ việc dân sự và tìm những cơ sở pháp lý, chúng ta trao đổi về những vướng mắc và kiến nghị đề xuất của tác giả.
2.1 Đối với trường hợp đương sự gửi đơn yêu cầu Tòa án không công nhận là vợ chồng:
Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình hiện hành thì chung sống như vợ chồng là việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng.
Đối với trường hợp này, chúng ta cần xem giữa họ có yếu tố tranh chấp với nhau không. Nếu họ thỏa thuận được với nhau và cùng yêu cầu Tòa án không công nhận vợ chồng thì Tòa án thụ lý, giải quyết theo trình tự của việc dân sự. Nếu họ không thống nhất với nhau, bất đồng quan điểm, tranh chấp với nhau thì thụ lý, giải quyết theo trình tự vụ án dân sự.
Bởi theo Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016  quy định tại Điều 3 về thụ lý, giải quyết đơn yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì: Trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn (không phân biệt có vi phạm điều kiện kết hôn hay không) và có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ. Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa các bên thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật hôn nhân và gia đình.
Theo đó, trường hợp nam, nữ chung sống như vợ chồng, tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn, khi giữa các bên không đồng thuận, có tranh chấp xảy ra thì chúng ta có đủ cơ sở pháp lý lựa chọn các quan hệ pháp luật tương ứng được quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về: Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án để giải quyết theo trình tự, thủ tục giải quyết đối với một vụ án dân sự. Trường hợp giữa các bên đã thỏa thuận được, thống nhất được và không có tranh chấp thì áp dụng những quan hệ pháp luật tương ứng được quy định tại Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 về những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án để giải quyết theo trình tự, thủ tục của một việc dân sự, trong đó có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.
2.2 Trường hợp đơn khởi kiện không đảm bảo các quy định về hình thức đơn khởi kiện thì Thẩm phán xử lý như thế nào?
Trường hợp này, những vướng mắc trong bài viết tác giả đã nêu là thường gặp, chính vì vậy cần có hướng dẫn hoặc sửa đổi rõ ràng hơn để việc áp dụng pháp luật được thống nhất.
Trong khi Bộ luật tố tụng dân sự 2015 chưa có hướng dẫn cụ thể về nội dung được nêu thì quay lại tham khảo từ những quy định tại Nghị Quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Điều 5 của Nghị quyết này hướng dẫn: Hình thức, nội dung đơn khởi kiện quy định tại Điều 164 của BLTTDS năm 2004 như sau: Để bảo đảm cho việc làm đơn khởi kiện đúng và thống nhất, Toà án yêu cầu người khởi kiện làm đơn khởi kiện theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Nghị quyết này. Toà án phải niêm yết công khai tại trụ sở Toà án mẫu đơn khởi kiện và hướng dẫn sử dụng mẫu đơn khởi kiện.
Từ đó có thể thấy việc niêm yết và hướng dẫn về nội dung, hình thức mẫu đơn khởi kiện tại mỗi Tòa án là bắt buộc. Mọi cá nhân, tổ chức khi làm đơn khởi kiện phải bám sát mẫu đơn này bằng nhiều cách khác nhau, trong đó có thể liên hệ trực tiếp Tòa án nơi khởi kiện hoặc nơi mình cư trú để biết được hình thức và nội dung đơn khởi kiện được quy định như thế nào. Chẳng hạn, Tòa án không thể thụ lý đơn mà trong phần hình thức đơn ở phần cuối đơn không có chữ ký, họ tên của người khởi kiện mặc dù những nội dung đơn khởi kiện đều đảm bảo; Do đó cần có sửa đổi, bổ sung hoặc hướng dẫn thống nhất về những trường hợp Thẩm phán được yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện để đảm bảo cả về nội dung và hình thức đơn. Làm tốt khâu xử lý đơn, thụ lý ban đầu sẽ góp phần rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, giảm thiểu khó khăn, phiền hà cho đương sự trong quá trình giải quyết vụ việc; góp phần giảm thiểu các trường hợp vi phạm thời hạn tố tụng đồng thời nâng cao chất lượng giải quyết án.
2.3 Đối với quy định tại khoản 3 Điều 208 BLTTDS năm 2015 về Trường hợp cần thiết thu thập chứng cứ:  
Khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định: “Đối với vụ án hôn nhân và gia đình liên quan đến người chưa thành niên, trước khi mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải giữa các đương sự thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp. Khi xét thấy cần thiết, Thẩm phán có thể tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em về hoàn cảnh gia đình, nguyên nhân phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án”. Quy định này thể hiện tính chất đặc thù của vụ án hôn nhân và gia đình, nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng của vợ, chồng, con. Trong thực tế, trước đây tại các địa phương có các cách làm khác nhau về nội dung quy định này đến trước khi Tòa án nhân dân tố cao ban hành Giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 về việc giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ. Tại mục 24 của giải đáp này có nội dung hỏi: Trong vụ án hôn nhân và gia đình có liên quan đến con chưa thành niên mà đương sự thuận tình ly hôn và thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa án có phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp và nguyện vọng của vợ, chồng, con có liên quan đến vụ án không? Thì Giải đáp đã nêu: đối với vụ án hôn nhân và gia đình có liên quan đến người chưa thành niên, việc thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân phát sinh tranh chấp là bắt buộc.
Tại mục 25 của Giải đáp số 01 nêu trên còn giải đáp, hướng dẫn:  
“Khoản 3 Điều 3 của Nghị định số 02/2013/NĐ-CP ngày 03-01-2013 của Chính phủ về công tác gia đình quy định: “Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về công tác gia đình tại địa phương”. Các khoản 11, khoản 12 Điều 8 của Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04-4-2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các khoản 5, khoản 6 Điều 7 Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05-5-2014 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về gia đình, về bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội, Phòng Văn hóa và Thông tin tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về gia đình, về bảo vệ và chăm sóc trẻ em.
Theo quy định tại khoản 3 Điều 208 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Thẩm phán, Thẩm tra viên được Chánh án Tòa án phân công phải thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp. Như vậy, khi giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình, Thẩm phán, Thẩm tra viên có thể thu thập tài liệu, chứng cứ và tham khảo ý kiến cơ quan quản lý nhà nước về công tác gia đình tại địa phương theo quy định tại các Nghị định nêu trên. Ngoài ra, để xác định nguyên nhân của việc phát sinh tranh chấp, Tòa án có thể tham khảo ý kiến của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi vợ, chồng chung sống, nơi con chưa thành niên cư trú.
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 52 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ quy định; Khuyến khích hòa giải ở cơ sở. Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở. Từ quy định nêu trên cho thấy việc hòa giải ở cơ sở đối với vợ chồng có yêu cầu ly hôn, kể cả trường hợp có con chưa thành niên thì hòa giải cơ sở là không bắt buộc. Từ quy định không bắt buộc này đối chiếu với quy định: đối với vụ án hôn nhân và gia đình có liên quan đến người chưa thành niên, việc thu thập tài liệu, chứng cứ để xác định nguyên nhân phát sinh tranh chấp là bắt buộc thì sẽ dẫn đến kết quả của việc thu thập tài liệu, chứng cứ để làm rõ vấn đề nói trên rơi vào tính hình thức bởi các cơ quan liên quan không nắm được cụ thể nên họ sẽ xác nhận “Mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn địa phương không nắm rõ”.
2.4 Đối với trường hợp các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình thống nhất đoàn tụ nhưng nguyên đơn không thống nhất rút đơn khởi kiện:  
Để hiểu sâu, toàn diện và vận dụng đúng tinh thần trong các quy định khi chưa có hướng dẫn cụ thể thì chúng ta quay về tìm hiểu những quy định tương tự trước đây trong các văn bản để giải quyết từng vụ việc đúng bản chất vấn đề được nêu. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo ngày 23/12/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, tại mục 10 quy định: Ly hôn theo yêu cầu của một bên (Điều 91)
a. Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Toà án phải tiến hành hoà giải. Nếu hoà giải đoàn tụ thành mà người yêu cầu xin ly hôn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án áp dụng điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án. Nếu người xin ly hôn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ thành. Sau 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không phản đối thì Toà án ra quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành. Quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành có hiệu lực pháp luật ngay và các đương sự không có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.
b. Trong trường hợp hoà giải đoàn tụ không thành thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ không thành, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung.
Từ đó chúng ta có thể thấy rằng, mặc dù không có Mẫu biên bản thống nhất của cấp trên, tuy nhiên các tên gọi “Biên bản hoà giải đoàn tụ thành”, “Quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành”, “biên bản hoà giải đoàn tụ không thành”,…là căn cứ vào các quy định nêu trên mà những người tiến hành tố tụng có thẩm quyền tự đặt loại văn bản, kể cả nội dung văn bản cho phù hợp với diễn biến vụ việc nên tính thống nhất về nội dung và hình thức trong từng văn bản trước đây không cao. Từ đó cần có một loại biểu mẫu dành riêng cho quá trình giải quyết vụ việc hôn nhân gia đình, hoặc hướng dẫn cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trên phạm vi toàn quốc.  
Trong phần này tác giả còn đặt ra vấn đề vướng mắc trong trường hợp nộp đơn khởi kiện lại vụ án nếu đã đoàn tụ thành. Trở lại tham khảo quy định tại Nghị Quyết số 05/2012/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tại khoản 7 Điều 8: “Người khởi kiện có quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 168 và các điểm c, e, g khoản 1 Điều 192 của BLTTDS và các văn bản pháp luật có quy định.
……
Ví dụ 1: Trường hợp Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ thành theo quy định tại Điều 88 của Luật Hôn nhân và Gia đình và đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận về việc hòa giải đoàn tụ thành giữa các đương sự. Trong thời gian đoàn tụ, các đương sự lại phát sinh mâu thuẫn và có đơn xin ly hôn yêu cầu Tòa án giải quyết, thì Tòa án căn cứ vào Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình để thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung.
Ví dụ 2: Trường hợp Tòa án đã bác đơn xin ly hôn của người chồng xin ly hôn vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi, thì Tòa án chỉ thụ lý lại vụ án xin ly hôn của người chồng khi đã đáp ứng đủ điều kiện khởi kiện quy định tại khoản 2 Điều 85 của Luật Hôn nhân và Gia đình”.
Tham khảo những quy định được nêu trên về bản chất của các quy định về cùng một vấn đề, từ đó đối chiếu với quy định tại Điểm c khoản 1 Điều 192 BLTTDS năm 2015 về trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện thì thấy: Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện trong  trường hợp sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
Và đối chiếu với quy định tại điểm b Khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong trường hợp: Yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu mà theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại;
          Từ những tham khảo và đối chiếu nêu trên, chúng ta thấy được với “yêu cầu ly hôn” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192 và điểm b khoản 3 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 giữa hai vế của các sự việc được ngăn cách với nhau bởi từ hoặc nên không rơi vào trường hợp “…mà trước đó Tòa án chưa chấp nhận…” vì đang tồn tại một quyết định với nội dung đoàn tụ như trong bài viết tác giả đã nêu. Nên theo chúng tôi trong trường hợp các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình thống nhất đoàn tụ nhưng nguyên đơn không thống nhất rút đơn khởi kiện thì chúng ta lập “Biên bản hòa giải thành”,  sau đó đủ thời gian theo quy định thì ra “Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự”  (theo mẫu đã ban hành) với nội dung đoàn tụ thành. Điều này, theo các quy định đã tham khảo nêu trên thì vẫn đảm bảo quyền khởi kiện lại của đương sự. Nếu sau khi ra quyết định, các đương sự không có tranh chấp mà cùng có yêu cầu thì thuộc quy định tại Điều 29 BLTTDS năm 2015 về những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; còn nếu “Yêu cầu ly hôn” mà có tranh chấp xảy ra thì được quy định tại Khoản 1 Điều 28 BLTTDS năm 2015 về những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, bởi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tại Điều 56 quy định ly hôn theo yêu cầu của một bên: Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
 
3. Những kiến nghị, đề xuất:
Để hoạt động và quy trình tố tụng dân sự tại Tòa án bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật nhằm nâng cao chất lượng giải quyết, chúng tôi có những kiến nghị, đề xuất sau:
- Cần có hướng dẫn hoặc sửa đổi, bổ sung Điều 193 BLTTDS về yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện với nội dung: Thẩm phán có quyền trả lại đơn khởi kiện nếu không đảm bảo hình thức và nội dung đơn khởi kiện, cụ thể như sau:
“Trường hợp đơn khởi kiện không đúng hình thức và không có đủ các nội dung quy định tại Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán thông báo bằng văn bản nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người khởi kiện để họ sửa đổi, bổ sung trong thời hạn do Thẩm phán ấn định nhưng không quá 01 tháng; trường hợp đặc biệt, Thẩm phán có thể gia hạn nhưng không quá 15 ngày. Văn bản thông báo có thể được giao trực tiếp, gửi trực tuyến hoặc gửi cho người khởi kiện qua dịch vụ bưu chính và phải ghi chú vào sổ nhận đơn để theo dõi. Thời hạn thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện không tính vào thời hiệu khởi kiện.
Trường hợp người khởi kiện đã sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo đúng quy định Điều 189 của Bộ luật này thì Thẩm phán tiếp tục việc thụ lý vụ án; nếu họ không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu thì Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện.
Cần quy định cụ thể, rõ ràng như vậy để thống nhất ngay từ đầu về hình thức và nội dung đơn khởi kiện để làm cơ sở vững chắc cho Thẩm phán trả lại đơn khởi kiện, đồng thời hạn chế đáng kể được những khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện.
- Cần có quy định, hướng dẫn riêng về trình tự, thủ tục hòa giải, xét xử vụ án hôn nhân và gia đình, đồng thời ban hành biểu mẫu về các loại văn bản tố tụng riêng để phù hợp với tính đặc thù của loại vụ việc này;
 
Trong quá trình thực hiện công việc gặp phải những khó khăn, vướng mắc nêu trên, chúng tôi mạnh dạn nêu ra trao đổi, mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý đồng nghiệp, bạn đọc và mong Tòa án nhân dân tối cao sớm có hướng dẫn cụ thể để việc áp dụng pháp luật được thống nhất./.

Tác giả bài viết: Ngô Văn Khôi - TAND huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới



Những tin khác