Trao đổi về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm bản án hình sự sơ thẩm khi đã có quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm

Thứ năm - 12/12/2013 03:00
Trao đổi về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm bản án hình sự sơ thẩm khi đã có quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm
Giám đốc thẩm là việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng có kháng nghị vì phát hiện có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Mục đích của giám đốc thẩm là phát hiện và khắc phục những “vi phạm nghiêm trọng” của Tòa án đã xét xử. Các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS) về giám đốc thẩm đã tương đối hoàn thiện, rõ ràng và đầy đủ, giúp cho việc áp dụng thủ tục này trong thực tế được chính xác hơn. Tuy vậy, trong quá trình nghiên cứu các quy định của pháp luật cũng như thực tiễn áp dụng còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau, nhiều quan điểm khác nhau.
Sau đây là ví dụ cụ thể:
“A có giấy phép lái xe hợp lệ điều khiển điều khiển xe ô tô kéo sơ mi rơ – mooc từ thành phố Hồ Chí Minh về Hà Nội, đến đoạn đường km 967 + 400 Quốc lộ 1A , lúc này phía trước cùng chiều có một xe ô tô tải chạy vượt lên và va vào xe mô tô BKS 92L8... do anh B điều khiển làm cho xe mô tô ngã ra phần đường dành cho xe cơ giới bên phải (hướng cùng chiều) phát hiện thấy như vậy A đánh tay lái sang phần đường trái để tránh. Cùng lúc này ở hướng ngược chiều có xe ô tô BKS 92K- ...... do C điều khiển, trên xe có chở 02 người (E và F)chạy đến. Do khoảng cách gần nên đầu xe ô tô có kéo sơ mi rơ -mooc do A điều khiển đâm thẳng vào phần đầu của xe ô tô C, đẩy xe ô tô của C vào lề đường trái làm cho phần đuôi xe ô tô của C húc vào một trụ điện ở lề đường trái thì dừng lại. Hậu quả vụ tai nạn giao thông làm cho E chết, F bị thương với tỷ lệ thương tích là 45%, anh C bị thương nhẹ, 02 xe ô tô bị hư hỏng nặng thiệt hại về tài sản là 159.565.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Q đã quyết định: Tuyên bố bị cáo A phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 202; điểm b, p khoản 1, 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo A (mười lăm) tháng tù. Thời gian thụ hình kể từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngày 15/12/2012, bị cáo A đã kháng cáo xin được hưởng án treo. Và  ngày 14/3/2012, bị cáo A có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Tòa án nhân dân tỉnh Q đã ra quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm
Sau đó, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Q có kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án án hình sự sơ thẩm của Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Q . Nội dung kháng nghị cho rằng: Bị cáo Agây ra tai nạn giao thông với hậu quả làm chết một người, một người bị thương với tỷ lệ thương tích là 45%, một người bị thương nhẹ, 02 xe ô tô bị hư hỏng nặng thiệt hại về tài sản là 159.565.000 đồng. Như vậy hậu quả bị cáo A gây ra là “đặc biệt nghiêm trọng” (theo nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003). Nhưng Cấp sơ thẩm truy tố, xét xử bị cáo theo điểm đ khoản 2 điều 202 BLHS là không đúng với khung hình phạt (đáng lẽ ra phải truy tố, xét xử theo khoản 3 Điều 202 BLHS).
          Vấn đề đặt ra ở đây là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao hay là Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị giám đốc thẩm trong trường hợp này. Qua thực tế giải quyết vụ việc, có hai nhóm ý kiến:
          - Nhóm ý kiến thứ nhất cho rằng: Vì sự tồn tại của quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm mà bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, vì vậy thẩm quyền kháng nghị bản án sơ thẩm có hiệu lực thuộc về Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh theo quy định tại khoản 1 Điều 279 BLTTHS.
          - Nhóm ý kiến thứ hai cho rằng: Mặc dù bản án sơ thẩm có hiệu lực  pháp luật nhưng đã có quyểt định đình chỉ xét xử phúc thẩm nên theo nguyên tắc 2 cấp xét xử bản án, quyết định sau cùng vẫn là bản án, quyết định của cấp phúc thẩm. Vì vậy, thẩm quyền kháng nghị thuộc về Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Đa số quan điểm nghiêng về nhóm ý kiến thứ hai.
          Theo quan điểm của chúng tôi thì những người có quyền kháng nghị giám đốc thẩm trong trường hợp này là Chánh án Tòa án nhân dân tối cao hoặc Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao; bởi những lý do sau:
          Thứ nhất: Theo quy đinh khoản 3 Điều 275 BLTTHS: Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh có quyền kháng nghị những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân cấp dưới (tức là Tòa án nhân dân cấp huyện).
          Bản án, quyết định sơ thẩm được coi là có hiệu lực pháp luật trong những trường hợp sau:
          - Bản án, quyết định và những phần của bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị (Điều 240 BLTTHS)
          - Toàn bộ bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, nghị nhưng người kháng cáo và Viện kiểm sát kháng nghị rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị và Tòa án cấp phúc (Thẩm phán trước khi mở phiên tòa, HĐXX tại phiên tòa) ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (QĐĐCXXPT) thì bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (khoản 2 Điều 238 BLTTHS, hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 7.2 mục 7 phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP).
          Nếu thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm của Chánh án Tòa án và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp tỉnh đối với bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra QĐ ĐCXXPT thì mặc nhiên QĐ ĐCXXPT đó không bị kháng nghị ( Bởi QĐĐCXXPT nếu bị kháng nghị GĐT thì thẩm quyền kháng nghị thuộc về Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởng VKSNDTC). Vấn đề nêu ra ở đây nếu QĐĐCXXPT đó không có căn cứ, trái pháp luật ( người rút đơn kháng cáo không phải là người có đơn kháng cáo, trường hợp giả mạo chữ ký để viết văn bản rút kháng cáo; hoặc người kháng cáo, kháng nghị rút một phần kháng cáo, kháng nghị nhưng Tòa án cấp phúc thẩm đã đình chỉ xét xử toàn bộ) thì việc chỉ kháng nghị bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật mà không xem xét đến QĐĐCXXPT có đúng hay không?  Còn ngược lại nếu có xem xét đến quyết định đình chỉ phúc thẩm thì thẩm quyền kháng nghị phải là Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởng VKSNDTC.
          Thứ hai: Theo quy định tại Điều 232 BLTTHS thì Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có quyền kháng nghị phúc thẩm bản án, quyết định sơ thẩm. Như vậy, trong trường hợp Viện kiểm sát cấp tỉnh đã kháng nghị nhưng sau đó rút kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp tỉnh ra QĐĐCXXPT, bản án sơ thẩm (đã bị kháng nghị) có hiệu lực pháp luật, Viện trưởng VKS cấp tỉnh lại kháng nghị giám đốc thẩm chính bản án sơ thẩm đó. Như vậy sẽ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn pháp luật. Mặt khác, nếu VKSND cấp tỉnh kháng nghị thì trường hợp VKS rút kháng nghị phúc thẩm; Tòa án cấp phúc thẩm ra QĐĐCXXPT, bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật thì Chánh án TAND cấp tỉnh lại được quyền kháng nghị giám đốc thẩm.
          Thứ ba: Trong trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm nhưng QĐĐCXXPT không bị hủy thì đương nhiên những nội dung trong quyết định đó vẫn có hiệu lực thi hành. Chẳng hạn như: hiệu lực của bản án sơ thẩm ( theo khoản 2 Điều 238 BLTTHS, hướng dẫn tại điểm a tiểu mục 7.2 mục 7 phần I Nghị quyết số 05/2005/NQ-HĐTP thì trong trường hợp này bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm). Vì vậy, khi hủy bản án sơ thẩm mà không hủy QĐĐCXXPT thì dẫn đến tình trạng những nội dung trong QĐĐCXXPT bị “treo lơ lửng”..
          Thứ tư: Trường hợp này nếu thẩm quyền kháng nghị của Chánh án TAND cấp tỉnh hoặc Viện trưởng VKSND cấp tỉnh sẽ dẫn đến tình trạng chưa thống nhất nhau về quy định của pháp luật. Cụ thể: cũng là trường hợp bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp huyện bị kháng cáo, kháng nghị nhưng nếu tại cấp phúc thẩm giải quyết bằng bản án thì thẩm quyền KNGĐT thuộc về Chánh án TANDTC hoặc Viện trưởng VKSNDTC; còn cấp phúc thẩm giải quyết bằng QĐ ĐCXXPT thì thẩm quyền kháng nghị GĐT lại là Chánh án TAND cấp tỉnh hoặc Viện trưởng VKSND cấp tỉnh. Theo tôi, nếu bản án, quyết định sơ thẩm đã bị kháng cáo, kháng nghị thì thẩm quyền KNGĐT đều thuộc về Chánh án TANDTC hay Viện trưởng VKSNDTC (mặc dù tại cấp phúc thẩm, TAND cấp tỉnh giải quyết bằng bản án hay QĐĐCXXPT). Như vậy nó sẽ thống nhất hơn về quy định của pháp luật nhưng nó cũng đảm bảo được nguyên tắc hai cấp xét xử.
          Từ vụ án cụ thể và những nội dung đã trình bày nêu trên, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến tham gia trao đổi về thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự đối với những bản án, quyết định sơ thẩm đã được cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm. Trường hợp này có có nhiều cách hiểu khác nhau, chưa thống nhất trong việc áp dụng, gây khó khăn trong quá trình thực hiện. Đồng thời, cấp có thẩm quyền cần có hướng dẫn cụ thể các quy định của BLTTHS để áp dụng thống nhất.

Tác giả bài viết: Thanh Tuyên (TAND tỉnh Quảng Nam)

Tổng số điểm của bài viết là: 9 trong 2 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: giám đốc

Những tin mới



Những tin khác