Một số vấn đề về thực tiễn xét xử án Hôn nhân & Gia đình tại TAND hai cấp tỉnh Quảng Nam

Một số vấn đề về thực tiễn xét xử án Hôn nhân & Gia đình tại TAND hai cấp tỉnh Quảng Nam
Hơn 14 năm thực thi Luật Hôn nhân và Gia đình, trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, trong tổng thể việc giải quyết án hôn nhân và gia đình, số lượng vụ án đưa ra xét xử không nhiều; phần lớn các vụ án được hòa giải đoàn tụ thành hoặc thuận tình ly hôn.
                                    
Nhưng các vụ án đưa ra xét xử đều mang tính phức tạp cao, liên quan đến nhiều quyền lợi quan trọng của các đương sự trong vụ án; có vụ án đưa ra xét xử nhiều lần nhưng vẫn không giải quyết dứt điểm. Trong bài viết này, chúng tôi mạnh dạn trao đổi cùng đồng nghiệp một số vấn đề về thực tiễn xét xử án Hôn nhân gia đình tại Tòa án nhân dân hai cấp trong năm 2013 và 6 tháng đầu năm 2014 để cùng đánh giá kết quả đạt được, đồng thời định những tồn tại, hạn chế, nhất là những sai sót thuộc trách nhiệm của Hội đồng xét xử nhằm góp phần nâng cao chất lượng xét xử án hôn nhân và gia đình trong thời gian tới.
I. Một số văn bản pháp qui là căn cứ pháp luật khi xét xử án Hôn nhân và gia đình:
Các qui định của pháp luật hôn nhân và gia đình mà Tòa án nhân dân các cấp sử dụng để làm cơ sở pháp lý khi giải quyết các vụ việc liên quan tập trung vào các văn bản pháp luật chủ yếu như: Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và các Nghị quyết, Nghị định hướng dẫn thực hiện Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Dưới đây là một số văn bản pháp qui thường phải sử dụng, tra cứu khi tham gia xét xử án Hôn nhân và gia đình:
- Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000;
- Nghị quyết 35/2000/NQ-QH10 về thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đìnhCông văn 77/2003/HĐTP về việc tiếp tục giải quyết các vụ án nêu tại Nghị quyết 01 của HĐTP;
- Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình;
- Nghị định 77/2001/NĐ-CP hướng dẫn đăng ký kết hôn theo Nghị quyết 35/2000/QH10;
- Nghị định 70/2001/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị định 32/2002/NĐ-CP áp dụng Luật Hôn nhân và gia đình đối với dân tộc thiểu số;
- Thông tư 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn Nghị quyết 35/2000/QH10 thi hành Luật Hôn nhân và gia đình;
- Công văn 81/2002/TANDTC về giải đáp các vấn đề nghiệp vụ trong giải quyết dân sự, hôn nhân gia đình;
- Công văn 61/2002/KHXX về việc công nhận thuận tình ly hôn.
- Thông tư 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn Chương "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình";
- Thông tư 01/2001/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC hướng dẫn Chương "Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình";
Ngoài ra còn có một số văn bản pháp quy có liên quan như: Nghị quyết số 02/HĐTP ngày 13 tháng 10 năm 1990 của Hội đồng Thẩm phán “Hướng dẫn một số qui định của Pháp lệnh thừa kế; Thông tư số 60/TANDTC ngày 22 tháng 02 năm 1978 hướng dẫn giải quyết các trường hợp cán bộ, bộ đội trong Nam tập kết ra Bắc mà lấy vợ, lấy chồng khác; Chỉ thị số 69/TATC ngày 24 tháng 12 năm 1979 về giải quyết vấn đề nhà, đảm bảo chỗ ở cho các đương sự sau khi ly hôn.
II. Khái quát chung về kết quả xét xử án Hôn nhân & Gia đình:
1. Kết quả đạt được:
Năm 2013 và 6 tháng đầu năm 2014, Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam đã giải quyết 2.939 vụ việc Hôn nhân và Gia đình trên tổng số 3.209 vụ việc Hôn nhân và Gia đình đã thụ lý; số lượng vụ, việc Hôn nhân và gia đình chiếm 44,3 % trên tổng số các loại án; tăng bình quân hằng năm trên 20%, tập trung nhiều nhất tại các địa phương như: Tam Kỳ, Núi Thành, Điện Bàn, Thăng Bình….Trong đó, Tòa án nhân dân hai cấp đã đưa ra xét xử 313 vụ án Hôn nhân và gia đình, chiếm tỷ lệ 10,65% trên tổng số vụ việc được giải quyết.
Nhìn chung, kết quả xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình (cả sơ thẩm và phúc thẩm) của Tòa án nhân dân hai cấp trong thời gian qua đạt yêu cầu đề ra, đáp ứng tốt yêu cầu chính đáng của đương sự, góp phần cùng chính quyền các cấp làm tốt công tác xây dựng làng, xã văn hóa, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc.
Trong quá trình xét xử các vụ án Hôn nhân và gia đình, đa số các Hội đồng xét xử đã đảm bảo nguyên tắc độc lập khi xét xử, đánh giá sát đúng thực trạng hôn nhân của đương sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em khi xem xét, quyết định các vấn đề về nuôi con chung, chia tài sản chung trong vụ án.
2. Một số tồn tại, hạn chế:
Bên cạnh những kết quả đạt được, thực trạng xét xử án Hôn nhân và Gia đình trong thời gian qua còn những vướng mắc, sai sót nhất định. Phần lớn nguyên nhân dẫn đến các sai sót là do lỗi chủ quan của Hội đồng xét xử, tập trung vào cả ba vấn đề: hôn nhân, con chung và tài sản chung. Theo đó, kết cấu của bài viết này được chúng tôi xây dựng theo hướng xác định những tồn tại, thiếu sót trong từng mối quan hệ, đồng thời trao đổi với đồng nghiệp một số quan điểm chung nhất nhằm phục vụ cho công tác xét xử, giải quyết án hôn nhân và gia đình trong thời gian tới được tốt hơn.
2.1. Tồn tại trong việc xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự và xác định quan hệ tranh chấp của vụ án:
Khảo sát thực trạng thụ lý, giải quyết, xét xử án Hôn nhân và Gia đình tại Tòa án nhân dân hai cấp trong thời gian qua cho thấy, rất nhiều trường hợp Tòa án phải qua hai lần giải quyết, phải bằng hai quyết định hoặc bản án của Tòa án cấp sơ thẩm mới giải quyết dứt điểm vụ án Hôn nhân và Gia đình, chưa tính đến vụ án phải giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Bởi khi đương sự làm đơn xin ly hôn, hoặc là do đương sự tự nguyện, hoặc là do ngại vụ án phức tạp, kéo dài nên một bộ phận cán bộ Tòa án hướng đương sự yêu cầu giải quyết mối quan hệ hôn nhân và con chung trước, còn phần tài sản thì hoặc là không yêu cầu giải quyết hoặc là để lại giải quyết sau. Đây cũng là một trong những lý do để giải thích trong những năm gần đây các vụ án hôn nhân và gia đình tăng về số lượng. Về nguyên tắc của pháp luật tố tụng dân sự, Tòa án phải tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, đương sự yêu cầu đến đâu, Tòa án giải quyết đến đó. Vấn đề ở chỗ, qua khảo sát các bản án Hôn nhân và Gia đình phúc thẩm, các đơn khiếu nại theo thủ tục giám đốc thẩm cho thấy nhiều trường hợp do người dân không hiểu pháp luật, cán bộ Tòa án giải thích, hướng dẫn không đến nơi đến chốn, dẫn đến bản án không giải quyết hết yêu cầu của đương sự. Dưới đây là một số ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: Tòa án cấp sơ thẩm xử cho ông H và bà T ly hôn. Về tài sản chung, cấp sơ thẩm quyết định giao bà T sở hữu ngôi nhà cấp 4, diện tích 73,85m2 trên nền đất của bà M (mẹ ruột bà T); các tài sản khác, cấp sơ thẩm nhận xét đương sự không yêu cầu nên không giải quyết. Tại cấp phúc thẩm xác định: ông H bà T làm nhà năm 2003 và thực hiện nghĩa vụ thuế nhà đất đối với diện tích nhà ở từ năm 2003 đến ngày xét xử, hiện trên đất còn cây lâu năm của vợ chồng ông H và của bà M, nhưng cấp sơ thẩm không hỏi ý kiến cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương về tính pháp lý của việc sử dụng đất, nộp thuế đất đối với diện tích đất vợ chồng ông H làm nhà, không xác định rõ quyền sở hữu các cây lâu niên có trên đất để giải quyết quyền lợi của các bên (Theo Công văn của Phòng Tài nguyên & Môi trường huyện Đ thì có thể xem xét làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho vợ chồng ông H). Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, ông H khai là tại cấp sơ thẩm đã báo cáo về tài sản là 02 chiếc xe máy, 01 tủ lạnh, 01 ti vi và 200m2 đất nhưng cấp sơ thẩm chưa giải quyết. Kiểm tra hồ sơ vụ án thì không có chứng cứ phản ảnh việc đương sự không yêu cầu giải quyết đối với các tài sản nêu trên.
Ví dụ 2: Bà Đ và ông T được Tòa án cấp sơ thẩm xử cho ly hôn vào năm 2012, theo đó Tòa án cấp sơ thẩm xác định về phần tài sản do các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Nhưng Tại phiên Tòa phúc thẩm,  ông T yêu cầu chia tài sản chung và cho rằng Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã không quan tâm đến yêu cầu này của ông. Theo lời trình bày của bà Đ (nguyên đơn), trong đơn khởi kiện lần 1 thì có yêu cầu “tài sản đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật”, nhưng vì muốn nhanh được ly hôn nên theo hướng dẫn của cán bộ Tòa án, bà viết đơn lại là chỉ yêu cầu giải quyết việc hôn nhân. Vì tại cấp sơ thẩm phản ảnh “tài sản chung các bên không yêu cầu giải quyết” nên cấp phúc thẩm không có quyền xem xét yêu cầu của ông T, hướng dẫn cho ông T quyền khởi kiện vụ án khác.
Từ thực trạng này kéo theo một sai sót nữa trong quá trình thụ lý yêu cầu chia tài sản chung của những cặp vợ, chồng đã được Tòa án cho ly hôn bằng một bản án hoặc quyết định công nhận thuận tình ly hôn. Theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự thì chỉ có Khoản 1 và Khoản 2 trong 6 khoản thuộc Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định các tranh chấp tài sản về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là “….chia tài sản khi ly hôn hoặc tranh chấp tài sản trong thời kỳ hôn nhân”, không xác định tranh chấp quyền sở hữu tài sản “sau khi ly hôn” là một loại tranh chấp của án hôn nhân và gia đình. Thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam cho thấy, sau khi được Tòa án giải quyết ly hôn, các bên về tiếp tục tranh chấp với nhau về tài sản, Tòa án hướng dẫn các đương sự làm đơn khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung sau đó thụ lý vụ án hôn nhân và gia đình với quan hệ pháp luật là “yêu cầu chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân” hoặc “yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn”. Đối chiếu với Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 29 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì: Yêu cầu chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân là  “Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng, thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết”. Nhưng trong trường hợp này các bên đã ly hôn nên không thỏa mãn quan hệ pháp luật này. Còn trường hợp Tòa án xác định quan hệ pháp luật “Yêu cầu chia tài sản sau khi ly hôn” thì Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự qui định về các tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án không đề cập. Do vậy, việc Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân hai cấp không nghiên cứu kỹ các qui định của pháp luật tố tụng và Luật Hôn nhân và gia đình, xác định yêu cầu chia tài sản chung của các cặp vợ chồng đã được Tòa án giải quyết ly hôn thuộc loại tranh chấp Hôn nhân và gia đình là không đúng qui định của pháp tố tụng.
2.2.Tồn tại trong công tác hòa giải các vụ án hôn nhân & gia đình:
Hòa giải trong vụ việc hôn nhân gia đình là việc làm thuyết phục các bên trong quan hệ hôn nhân gia đình đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa, giải quyết các tranh chấp, bất đồng giữa các bên bằng thương lượng với nhau có sự tham gia của người tiến hành tố tụng hoặc đại diện chính quyền địa phương. Đối với vụ việc ly hôn, thì hòa giải có thể giúp cho vợ chồng đoàn tụ, khôi phục, hàn gắn tình cảm vợ chồng, hạn chế tình trạng bạo lực gia đình. Khi thực hiện thủ tục hòa giải trong vụ án hôn nhân và gia đình, Thẩm phán là bên thứ ba đóng vai trò trung gian, hoà toàn độc lập với hai bên, không có quyền áp đặt, thiên vị; giúp hai bên ngồi lại với nhau và tìm cách đưa các bên tới những điểm mà họ có thể thỏa thuận được. Hòa giải có ý nghĩa quan trọng, giúp các bên hiểu biết, tôn trọng nhau hơn, giữ gìn uy tín, danh dự của nhau, chấm dứt tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn hoặc không vượt qua giới hạn của sự nghiêm trọng. Chính vì vai trò này nên trong quy định pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình đều đặt ra vấn đề hòa giải trong giải quyết các tranh chấp. Tại Điều 86 Luật Hôn nhân & Gia đình quy định: "Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở”. Theo Điều 10 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 88 Luật Hôn nhân & Gia đình, đối với vụ án về hôn nhân và gia đình, hòa giải về quan hệ hôn nhân là thủ tục bắt buộc (trừ những trường hợp không tiến hành hòa giải được theo Điều 182 Bộ luật Tố tụng dân sự). Trong thực tiễn giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình, về mặt thủ tục, rất ít trường hợp mắc lỗi trong việc tổ chức phiên hòa giải. Tuy nhiên, nội dung, hình thức, phương pháp và định hướng hòa giải trong nhiều vụ án cụ thể không được người tiến hành tố tụng thực hiện hiệu quả, thiên về hình thức. Đối với Hội đồng xét xử, việc xem xét yêu cầu, quan điểm của các bên đương sự tại phiên tòa chủ yếu tập trung vào việc phán quyết dứt điểm bản án, do thủ tục “cứng” về phiên hòa giải đã được thực hiện nên tại phiên tòa xét xử rất nhiều trường hợp “mặc nhiên” không thấy Hội đồng xét xử đề cập đến điều này. Nhất là đối với những vụ án mà tại phiên hòa giải trước khi xét xử, các bên đã thuận tình ly hôn, các biên bản phiên tòa và chứng cứ chứng minh thực trạng hôn nhân lưu tại hồ sơ vụ án cho thấy, rất nhiều trường hợp hồ sơ vụ án không có chứng cứ chứng minh thực trạng hôn nhân, tại phiên tòa Hội đồng xét xử bỏ qua việc xét hỏi, làm rõ thực trạng hôn nhân của đương sự, không buộc bên nguyên đơn phải chứng minh thực trạng hôn nhân tại phần tranh luận mà “chấp nhận nhanh” sự thuận tình ly hôn của các bên, dành thời gian để tập trung xét hỏi, làm rõ mối quan hệ về tài sản và con chung.
Tồn tại này không phải là lỗi “vi phạm thủ tục tố tụng”, bởi thủ tục hòa giải trong vụ án hôn nhân và gia đình đã được Thẩm phán thực hiện trước đó bằng việc lập biên bản hòa giải đoàn tụ không thành. Nhưng chúng tôi đặt vấn đề này đối với các thành viên Hội đồng xét xử vì phân tích vấn đề ở góc độ trách nhiệm chính trị của người cán bộ, của những người nhân danh Nhà nước làm công tác xét xử, bởi các yêu cầu sau đây:
Thứ nhất: Quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là loại quan hệ đặc thù; điều kiện nhận thức về kinh nghiệm cuộc sống và kiến thức pháp luật của đại bộ phận người dân lao động chưa cao; độ tuổi về xin ly hôn của các cặp vợ chồng trong những năm gần đây bị trẻ hóa; hậu quả của những cuộc hôn nhân đổ vỡ có tác động tiêu cực nhiều chiều đến xã hội, làm cản trở chủ trương xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ, đẩy mạnh phát triển đời sống kinh tế, nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân của Đảng và Nhà nước…
Thứ hai: Trong thành phần của Hội đồng xét xử, Hội thẩm nhân dân là người đại diện cho quyền và lợi ích của nhân dân khi tham gia xét xử. Thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương là trách nhiệm chung của Hội đồng xét xử, đối với Hội thẩm nhân dân trách nhiệm đó được cụ thể hóa bằng việc các vị phải thay mặt nhân dân, cùng Tòa án phán quyết kết quả xét xử của vụ án hướng về phục vụ trở lại nhiều nhất cho nhân dân - những người mà các vị được họ đã tin tưởng, ủy nhiệm thay mặt họ khi tham gia xét xử. Hơn nữa, phần lớn các vị Hội thẩm nhân dân đương chức công tác tại các đoàn thể thuộc khối Mặt trận, dân vận. Theo đó, các vị Hội thẩm này tham gia xét xử cũng đồng thời thực hiện nhiệm vụ, vai trò của mình trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của thành viên, đoàn viên, hội viên thuộc hội, đoàn thể mình đang phụ trách.
Thứ ba: Theo thống kê cho thấy, trong tổng số các vụ án Hôn nhân và gia đình được giải quyết (theo phạm vi thời gian thống kê),547 vụ án phát sinh từ nguyên nhân “đánh đập, ngược đãi” (chiếm tỷ lệ 19%), có 302 vụ án phát sinh từ nguyên nhân “nghiện rượu, cờ bạc” (chiếm 10,2%), có 1.279 vụ án phát sinh từ nhiều nguyên nhân do mâu thuẫn, xung đột trong cuộc sống (chiếm tỷ lệ 43,5%)…Số liệu này đặt ra yêu cầu cần thiết về công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật, giải thích, điều chỉnh những hành vi xử sự sai trái, thiếu trách nhiệm, phi đạo đức đã xảy ra trong cuộc sống của những gia đình liên quan đến vụ án.
Các yêu cầu đó đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân trong quá trình giải quyết, xét xử vụ án hôn nhân và gia đình phải phát huy năng lực, trách nhiệm và cái tâm nghề nghiệp để thực hiện công tác hòa giải “nhiều hơn” những qui định pháp luật tố tụng bắt buộc phải làm. Đương nhiên Hội đồng xét xử phải cân đối hợp lý phần việc của mình liên quan đến yêu cầu hòa giải hôn nhân trong vụ án; phải phù hợp với thực trạng hôn nhân và ý thức hợp tác của các đương sự.
2.3. Tồn tại trong việc đánh giá, xem xét thực trạng hôn nhân của đương sự:
Theo quy định của Điều 89 Luật HNGĐ thì căn cứ cho ly hôn là:
1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn.
2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”.
Làm rõ nội dung này, Nghị quyết số 02/2000/NQ - HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn:
Thứ nhất: Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi:
- Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như: Người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hoà giải nhiều lần;
- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần;
- Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình;
Thứ hai: Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như hướng dẫn tại mục thứ nhất hay chưa. Nếu thực tế cho thấy đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần, nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.
Thứ ba: Mục đích của hôn nhân không đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển mọi mặt.
Kết quả xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua cho thấy, phần lớn các phán quyết của Hội đồng xét xử về việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của các đương sự không bị kháng cáo, kháng nghị. Điều này cho phép chúng ta nhận định theo hướng đương sự và các cơ quan bảo vệ pháp luật chấp nhận, thống nhất kết quả phán quyết của Hội đồng xét xử. Nhưng thẳng thắn nhìn nhận, phần lớn các thành viên của Hội đồng xét xử đều dựa trên cơ sở “niềm tin nội tâm” để đánh giá thực trạng hôn nhân của đương sự sau khi chứng kiến cách ứng xử, quan điểm lập luận của đương sự trong quá trình xét xử tại phiên tòa.
Thực vậy, xuất phát từ bản chất và đặc thù của quan hệ hôn nhân, không phải khi nào Hội đồng xét xử hay những người bên ngoài nào cũng đánh giá thấu đáo được thực trạng hôn nhân của các đương sự. Hơn nữa, có những nguyên cớ, hành vi, cách ứng xử giữa vợ và chồng mang nặng tính riêng tư, không phải trường hợp nào đương sự cũng khai cụ thể và cung cấp chứng cứ để chứng minh. Trong khi đó, tính gắn kết trong đời sống cộng đồng, nhất là sự quan tâm giữa gia đình này, với gia đình khác trong cùng một khu vực sống ngày một khoảng cách hơn; hoạt động của các đoàn thể, tổ chức xã hội trong công tác bảo vệ quyền, lợi của thanh niên, phụ nữ, trẻ em vị thành niên…chưa thật sự mang lại hiệu quả. Các điều kiện này đã làm cho công tác thu thập chứng cứ, tìm hiểu, đánh giá thực trạng hôn nhân của đương sự từ phía cơ quan tiến hành tố tụng không thuận lợi, thậm chí rất khó khăn. Nhiều trường hợp Hội đồng xét xử chỉ căn cứ vào lời khai của vợ, chồng để đánh giá thực trạng hôn nhân của đương sự có thỏa mãn hay chưa thỏa mãn yêu cầu của khoản 1 Điều 89 Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000; thậm chí có trường hợp lời khai của các bên có mâu thuẫn nhau về chứng minh thực trạng hôn nhân nhưng Hội đồng xét xử vẫn quyết theo “suy đoán nội tâm” mà không có chứng cứ nào khác. Dưới đây là một số ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: Hồ sơ vụ án tại cấp sơ thẩm phản ảnh: Bà N và ông T kết hôn từ năm 2001. Trong quá trình sống chung, năm 2010 bà N vay tiền hàng trăm triệu tiêu xài riêng, ông T giận nên có đốt quần áo, tài sản của bà N. Vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhưng được hòa giải nên về sống chung với nhau. Năm 2012, bà N ngoại tình, nhưng được hòa giải nên hai người chấp nhận bỏ qua lỗi lầm về sống chung với nhau. Trong thời gian sống chung sau này, ông T thừa nhận có đánh đập vợ, bà N không sống chung được nên thuê nhà ở riêng, ông T và các con cũng đến nhà thuê để ở chung với bà N, nhưng sau đó bà N lại thuê nhà khác để ở, không cho ông T biết. Bà N cho rằng tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã trầm trọng, không thể tiếp tục sống chung với nhau nên xin ly hôn. Ông T cho rằng mặc dù vợ có sai lầm nhưng ông vẫn tha thứ, vẫn còn thương vợ nên xin đoàn tụ.  Tòa án cấp sơ thẩm nhận định hôn nhân hai người chưa mâu thuẫn trầm trọng, vẫn có khả năng hàn gắn được nên bác đơn xin ly hôn của bà N. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà N đã cung cấp chứng cứ về thuê nhà ở riêng, biên bản trình báo sự việc bà N ngoại tình của ông T và biên bản hòa giải do cơ quan bà N lập….Tòa án phúc thẩm nhận định tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên xử chấp nhận kháng cáo của bà N, cho bà N ly hôn với ông T. Từ khi xét xử phúc thẩm đến nay, ông T không khiếu nại.
Ví dụ 2: Ông H và bà K kết hôn từ năm 1999. Từ năm 2009 hai người phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là tính tình hai bên không hợp nhau, năm 2010 ông H bỏ về Đà Nẵng sống riêng, bà K ở tại Tam Kỳ. Vợ chồng không sống chung từ năm 2010 đến nay, ông H xin ly hôn, bà K yêu cầu đoàn tụ vì cho rằng vợ chồng bà không có gì mâu thuẫn, bà đang điều trị bệnh nên không thể sống khi không có chồng, con chăm sóc, giúp đỡ. Cụ thể  bà đã bị bệnh U tuyến thượng thận, sau khi mỗ vẫn tiếp tục điều trị; việc ông H về Đà Nẵng sống là làm ăn để kiếm tiền chữa bệnh cho bà và nuôi con. Tòa án cấp sơ thẩm xử bác đơn ly hôn. Tại phiên tòa phúc thẩm, hai bên thuận tình ly hôn nên cấp phúc thẩm đã công nhận sự thỏa thuận của đương sự.
Hai vụ án trên cho thấy, kết quả đánh giá thực trạng hôn nhân và phán quyết của Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm còn chỗ chưa sát với điều kiện hôn nhân trên thực tế của đương sự. Nhất là khi nghiên cứu phần “Xét thấy” của hai bản án sơ thẩm trên, lập luận của Hội đồng xét xử bác yêu cầu xin ly hôn của đương sự mang tính chung chung, chưa phân tích rõ các điều kiện theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ – HĐTP.
Đó là trường hợp các đương sự chưa thống nhất về quan hệ hôn nhân. Còn đối với trường hợp tại phiên tòa các đương sự đã thuận tình ly hôn, đa phần các bản án phân tích nguyên nhân để chấp nhận cho ly hôn “ngắn” hơn, “khái quát” hơn, thậm chí không cần phân tích mà xác định ngay rằng: “Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân của ông A và bà B không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên công nhận sự thuận tình ly hôn của đương sự…”!
2.4.Tồn tại trong việc chia tài sản chung:
2.4.1. Về tài sản vợ chồng
Điều 27 Luật HNGĐ năm 2000 quy định tài sản chung của vợ chồng như sau:
“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và những tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ chồng có thỏa thuận. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
2. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
3. Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung”.
Về nguyên tắc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, Điều 28 Luật Hôn nhân & Gia đình năm 2000 qui định:
“1. Vợ, chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
2. Tài sản chung của vợ chồng được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ chồng.
3. Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này”.
Khẳng định rõ quyền lợi của vợ, chồng đối với tài sản chung, Điều 219 Bộ luật dân sự qui định:
“1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất.
2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung bằng công sức của mỗi người; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
3. Vợ chồng cùng bàn bạc, thoả thuận hoặc uỷ quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.
4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thoả thuận hoặc theo quyết định của Toà án.”
Theo đó, trên cơ sở yêu cầu của các đương sự và các chứng cứ được cung cấp tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phải cân nhắc kỹ tính hợp pháp, hợp lý trong việc hình thành khối tài sản chung của vợ chồng và xác định các tài sản riêng của mỗi người theo các qui định trên của Luật Hôn nhân và gia đình, Bộ luật dân sự và các văn bản pháp qui khác. Khi đủ cơ sở pháp lý để khẳng định rõ khối tài sản chung của vợ chồng là bao nhiêu, bao gồm những thứ gì thì khi giải quyết ly hôn, Hội đồng xét xử căn cứ các qui định từ Điều 95 đến Điều 99 Luật Hôn nhân và gia đình để giải quyết vụ việc, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thực tiễn xét xử cho thấy, đa phần các vụ án Hôn nhân và gia đình phải đưa ra xét xử là do các bên không thỏa thuận được việc phân định tài sản chung của vợ chồng với tài sản riêng của từng người hoặc đối với tài sản có liên quan đến người thứ ba hoặc không thỏa thuận được việc phân chia tài sản.
Nhìn chung, kết quả phân chia tài sản chung khi giải quyết ly hôn của Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua đã đảm bảo khá tốt quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, bám sát các qui định của pháp luật, quan tâm đến điều kiện, hoàn cảnh thực tế, nhu cầu cuộc sống của các bên, đảm bảo quyền lợi của phụ nữ, trẻ em và những người có nhược điểm về thể chất, tinh thần…
Bên cạnh những kết quả đạt được, các sai sót, tồn tại khi phân chia tài sản chung trong vụ án hôn nhân gia đình tại Tòa án nhân dân hai cấp tương đối nhiều, có thể phân chia thành các dạng sau:
Một là, tồn tại do không nhận định rõ cơ sở pháp lý hình thành khối tài sản chung của đương sự:
Theo qui định của pháp luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn liên quan, việc chia tài sản chung trong vụ án hôn nhân và gia đình hiện nay được xác định theo hai dạng. Dạng thứ nhất là chia tài sản chung của vợ chồng và dạng thứ hai là chia tài sản chung của những người bị Tòa án tuyên bố “không công nhận là vợ chồng hoặc hủy hôn nhân trái pháp luật”. Khi phân chia tài sản chung của vợ chồng, Hội đồng xét xử phải căn cứ vào Điều 217, 219 của Bộ luật dân sự và các qui định từ Điều 95 đến Điều 99 của Luật Hôn nhân & Gia đình để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên đối với tài sản chung hợp nhất (quyền ngang nhau). Nhưng khi phân chia tài sản của những người bị “không công nhận là vợ, chồng hoặc hủy hôn nhân trái pháp luật” thì quyền và nghĩa vụ của các bên đối với tài sản chung được chia trên cơ sở căn cứ vào các qui định tại Điều 216 của Bộ luật dân sự (sở hữu chung theo phần), xác định phần, công sức đóng góp của các bên đối với khối tài sản (không ngang nhau về quyền và nghĩa vụ đối với tài sản).
Thực tiễn xét xử cho thấy, rất nhiều trường hợp khi thụ lý vụ án yêu cầu chia tài sản chung sau khi các bên đã ly hôn, không những Tòa án cấp sơ thẩm xác định không đúng quan hệ tranh chấp và loại án đã giải quyết (như đã phân tích ở phần trên), mà còn phân tích không rõ cơ sở pháp lý hình thành khối tài sản chung. Cụ thể, các bản án ban hành phần lớn không xác định rõ các bên trước đây được Tòa án xử cho ly hôn hay là bị Tòa án tuyên bố “không công nhận là vợ chồng hoặc hủy hôn nhân trái pháp luật”. Trong khi đó, nội dung này và các chứng cứ liên quan đến nội dung này là cơ sở pháp lý đặc biệt quan trọng để xác định quyền lợi của các bên khi phân chia tài sản chung.
Hai là, sai sót do xác định, phân định không đúng khối tài sản chung:
Một số Hội đồng xét xử khi xem xét yêu cầu của đương sự đã không phân định được đâu là tài sản chung của vợ chồng, đâu là tài sản riêng của từng người, đâu là tài sản có liên quan đến người thứ ba, nhất là những trường hợp trước khi kết hôn một bên đã được cơ quan thẩm quyền cấp hoặc công nhận quyền sử dụng tài sản riêng hoặc sau khi kết hôn vợ, chồng được cha, mẹ cho đất để làm nhà ở nhưng chưa làm thủ tục đầy đủ.... Theo đó, Hội đồng xét xử chỉ dựa trên tình hình thực tế của quá trình sử dụng tài sản đó để xác định ý chí của các bên về nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Dưới đây là một số ví dụ:
Ví dụ 1: Ông N và bà B kết hôn tháng 5 năm 1995. Trước khi kết hôn, ông N được giao sử dụng diện tích đất thổ cư 640m2, đến tháng 7 năm 1995 (sau khi kết hôn 2 tháng) thì ông N được cấp bìa đỏ. Trong quá trình sử dụng đất, ông N và bà B thỏa thuận góp tiền, góp công sức xây móng là nhà trên đất này, diện tích 48m2. Cấp sơ thẩm cho rằng việc thỏa thuận xây nhà trên thể hiện ông N đã đồng ý nhập diện tích đất 640m2 trên vào tài sản chung vợ chồng nên đem chia phần cho hai bên. Cấp phúc thẩm xử sửa án phần này với lý do: Không có giấy tờ nào chứng minh việc ông N đồng ý nhập diện tích đất vào tài sản chung, trên thực tế ngôi nhà chung của hai người chỉ xây trên 48m2 đất. Theo đó, cấp phúc thẩm chỉ chấp nhận 48m2 đất trong tổng số 640m2 là tài sản chung của vợ chồng ông N bà B. Cũng trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định bà B là người buôn bán, có thu nhập cao hơn nên chia cho bà B 60% giá trị mảnh đất mà vợ chồng ông N bà B nhận chuyển nhượng của ông M là 265,24m2. Tòa cấp phúc thẩm xử sửa án sơ thẩm phần này vì lý do: Không có chứng cứ chứng minh bà B dùng số tiền buôn bán góp vào để mua diện tích đất trên. Hơn nữa trong tổng diện tích đất trên có 44,91m2  được cơ quan quản lý địa phương xác định đất không nằm trong bìa đỏ, hiện do xã quản lý nhưng cấp sơ thẩm lại xử giao hoàn toàn diện tích đất trên cho bà B.
Ví dụ 2: Ông T và bà C được Tòa án sơ thẩm xét xử cho ly hôn. Về tài sản chung, bà C được giao sử dụng toàn bộ đất ở, đất vườn, đất nông nghiệp cho ông T đứng tên bìa đỏ là 3.912m2; ông T được giao sở hữu ngôi nhà cấp 4 (là tài sản thuộc sở hữu chung giữa vợ chồng ông T và mẹ ruột ông T là bà H). Vấn đề ở chỗ, hồ sơ vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm phản ảnh: Ngôi nhà cấp 4 mà cấp sơ thẩm cho rằng thuộc sở hữu chung của 03 người như nêu trên là ngôi nhà tình nghĩa được nhà nước hỗ trợ 11 triệu đồng để xây. Ngoài ra là số tiền của vợ chồng ông T đóng góp và theo lời khai của bà H thì bà bỏ thêm tiền tích góp vào và các con rễ của bà cũng cho tiền góp vào; ngôi nhà này xây trên diện tích đất 300m2 của con rễ bà H. Nhưng cấp sơ thẩm chưa làm rõ số tiền bà H góp ngoài tiền nhà nước hỗ trợ là bao nhiêu, không xác định diện tích đất có ngôi nhà là của ai mà lại tuyên xử giao nhà, đất cho ông T quản lý. Thêm nữa, ông T là người làm nông, nhưng khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm giao hết đất nông nghiệp cho bà C là không đảm bảo quyền lợi của đương sự khi chia tài sản.
Ví dụ 3:  Trước đây, vợ chồng ông N ra tòa ly hôn và tranh chấp một lô đất đang đứng tên ông N. Người vợ khai chồng mua đất lúc nào bà không biết, chỉ khi trong nhà thiếu đi một khoản tiền, bà mới hay là chồng đã lấy đi mua đất. Do đó mảnh đất là tài sản chung của vợ chồng. Ngược lại, ông N. khai nguồn tiền mua đất là của mẹ ông. Mẹ ông N thì khai năm 2003, bà đưa 90 triệu đồng nhờ con trai mua giùm lô đất trên. Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm không công nhận lô đất là tài sản chung của vợ chồng ông N. Cấp phúc thẩm đã sửa án sơ thẩm, công nhận lô đất này là tài sản chung.
Cấp giám đốc thẩm nhận định: Lời khai của các đương sự rất khác nhau về nguồn tiền mua đất nhưng không bên nào xuất trình được đầy đủ chứng cứ chứng minh. Lẽ ra, các cấp tòa án cần phải thu thập thêm chứng cứ để làm rõ thời điểm mua đất, mua của ai, quá trình sử dụng, đăng ký, kê khai. Về nguồn tiền mua, các cấp tòa án cũng cần phải xác minh công việc, nguồn thu nhập của các bên cũng như độ chính xác trong lời khai của mẹ ông N. Do không thu thập đầy đủ chứng cứ để làm rõ nên mỗi cấp tòa có một quyết định khác nhau nhưng đều chưa đủ căn cứ và thiếu tính thuyết phục.
Ba là, sai sót do xác định, phân chia giá trị tài sản chung cho các bên:
Thực tiễn xét xử cho thấy, Hội đồng xét xử không đủ chứng cứ để phân định được công sức đóng góp của các bên đối với khối tài sàn chung nên đã xác định tỷ lệ đóng góp theo phương án định tính! Cũng có trường hợp Hội đồng xét xử xác định đúng quyền lợi của các bên đối với tài sản chung nhưng khi phân chia thì không căn cứ vào yêu cầu, điều kiện cụ thể của mỗi bên, đặt tính, chủng loại tài sản nên dẫn đến kết quả phán quyết của Hội đồng xét xử không có tính khả thi trên thực tế hoặc ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của đương sự. Dưới đây là một số ví dụ cụ thể:
Ví dụ 1: Ông N và bà P được Tòa án cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm xử cho ly hôn. Về phần tài sản chung, ông bà có 01 ngôi nhà chung cấp 4, xây trên diện tích đất 74,3m2, đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cấp sơ thẩm xử giao nhà cho ông N, ông N có nghĩa vụ thối tiền cho bà P. Cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, giao nhà cho bà P, bà P có nghĩa vụ thối tiền cho ông N. Cấp giám đốc thẩm nhận định: “Cuộc sống của bà P và các con gắn liền với ngôi nhà mà mọi người đang sống; bà P yêu cầu  chia nhà, đất để có điều kiện buôn bán. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa phúc thẩm, bà P cho rằng nếu chia đôi ngôi nhà để hai bên đều có chỗ ở thì tốt và bà tự nguyện xây tường ở giữa để ngăn đôi ngôi nhà. Bên cạnh đó, bà P cũng thừa nhận ông N là người chậm chạp, nhận thức hạn chế; bản thân ông N cũng thừa nhận bị giảm thiểu về trí tuệ nên khả năng tạo dựng chỗ ở mới của ông sẽ gặp nhiều khó khăn; hơn nữa nhà đất trên hiện ông Ngôn đang thờ cúng cha, mẹ trong ngôi nhà này…”. Nên cấp giám đốc thẩm xử hủy cả án sơ thẩm và án phúc thẩm để về xét xử lại theo hướng chia đôi ngôi nhà cho mỗi bên sử dụng một phần.
Ví dụ 2: Ông C bà H được Tòa án cấp sơ thẩm xử cho ly hôn và phân chia tài sản chung vào năm 2009, bản án sơ thẩm bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử hủy phần chia tài sản chung. Sau đó, trong thời gian chờ giải quyết lại các bên về chia nhà ra ở, ông C đã xây tường ngăn ra để sử dụng, tường xây phù hợp với dầm chịu lực của kết cấu nhà. Nhưng tại bản án sơ thẩm xét xử phân chia tài sản lại đã tuyên chia thêm cho ông C 01 m ngang nhà (nếu phải thi hành án lại là đập bỏ tường phân chia, không phù hợp với dầm chịu lực của ngôi nhà). Xét thấy việc phân chia này không phù hợp với công năng sử dụng thực tế và kỹ thuật kết cấu của ngôi nhà nên cấp phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của bà H, giữ nguyên hiện trạng nhà như các bên đã tự chia để sử dụng sau khi ly hôn từ năm 2009.
Ví dụ 3: Tài sản tranh chấp là lô đất diện tích hơn 132 m2, trên đất có hai căn nhà cấp bốn tọa lạc. Bà P khai rằng nhà là tài sản chung, còn đất là tài sản riêng do bà mua trước khi kết hôn. Người chồng thì nói cả nhà và đất đều là tài sản chung do ông góp tiền mua. Hồ sơ vụ án thể hiện bà P nhận chuyển nhượng một lô đất diện tích 250m2 từ người chủ cũ vào đầu năm 1990 với giá 16 chỉ vàng. Đến cuối năm, bà mới kết hôn. Sau đó vợ chồng bà cùng xây nhà chung sống trên diện tích đất này. Đến năm 1999, hai người cùng viết giấy bán nửa lô đất. Nửa lô đất còn lại được UBND Thành phố T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng cùng đứng tên.
 Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm đều xác định nhà đất là tài sản chung của vợ chồng, có tổng giá trị hơn 2,3 tỉ đồng và tuyên chia cho bà P. được hưởng toàn bộ nhà đất và phải trả cho người chồng 1,1 tỉ đồng.
Cấp giám đốc thẩm xác định: Việc hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm xác định nhà đất là tài sản chung của vợ chồng bà P là đúng vì có cơ sở xác định bà P đã tự nguyện nhập phần đất vào khối tài sản chung. Tuy nhiên, đất có nguồn gốc do bà P mua trước khi kết hôn nên phải xác định rằng bà có công sức đóng góp chủ yếu trong khối tài sản chung, tức bà phải được phần tài sản nhiều hơn người chồng mới đúng.
2.5.Tồn tại trong việc giải quyết yêu cầu nuôi con chung:
Pháp luật Hôn nhân và gia đình qui định vợ, chồng có nghĩa vụ và quyền ngang nhau đối với con chung. Khi giải quyết yêu cầu của đương sự về nuôi con chung, Hội đồng xét xử phải căn cứ qui định tại Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 để phán quyết. Trong đó, Hội đồng xét xử chú trọng các nguyên tắc cơ bản về trách nhiệm nuôi con của người mẹ đối với con dưới 03 tuổi; quyền được hỏi ý kiến của con từ 9 tuổi về nguyện vọng sống với cha hay mẹ sau ly hôn; nhận định điều kiện thực tế, khả năng kinh tế, tư cách, trách nhiệm của cha, mẹ để giao con chung cho các bên nuôi sau ly hôn; xác định nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con và quyền thăm nom, chăm sóc con chung của người không nuôi con. Về cơ bản các quyết định của Hội đồng xét xử trong thời gian qua đã thực hiện tốt các nội dung trên, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của con sau khi cha, mẹ ly hôn.
Trên thực tế thì rất ít trường hợp các bên không thỏa thuận được việc nuôi con chung và khi có kết quả xét xử sơ thẩm, rất ít trường hợp kháng cáo về nội dung này. Tuy nhiên, qua khảo sát kết quả xét xử phúc thẩm và nghiên cứu kết quả xét xử sơ thẩm, thực tiễn các phán quyết của Hội đồng xét xử về việc giải quyết yêu cầu nuôi con chung có phát sinh một số sai sót, cần được quan tâm như sau:
Dạng sai sót thứ nhất: Trong quá trình xét xử vụ án, một vài trường hợp Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm áp dụng Điều 92 một cách cứng nhắc, không nghiên cứu các qui định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối con được hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2000/NQ – HĐTP: “Trong trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được về người trực tiếp nuôi con thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi con căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho sự phát triển tốt về tinh thần. Nếu con từ đủ chín tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về nguyện vọng được sống trực tiếp với ai”; đánh giá chưa toàn diện về nhu cầu sống, học tập, phát triển bình thường của trẻ, nhất là tính ổn định về tâm lý của trẻ em sau khi cha mẹ ly hôn. Dưới đây là một số ví dụ:
Ví dụ 1: Bà Đ và ông T được Tòa án cấp sơ thẩm xử cho ly hôn vào năm 2012, theo đó Tòa án cấp sơ thẩm xử giao cháu K (sinh năm 2006) cho bà Đ nuôi. Nhưng thực tế cho thấy, chính bà Đ và ông T đều thừa nhận cháu K sống với ông T từ khi bà Đ không ở chung trong gia đình, mỗi lần bà Đ về thăm cháu K đều bị cháu né tránh và khóc. Tại phiên Tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã phân tích cho các bên thấy lợi ích và quyền nuôi con chung, ông T và bà Đ thỏa thuận giao cháu K cho ông T nuôi .
Ví dụ 2: Năm 2012, Tòa án cấp sơ thẩm xử giao cháu T (sinh năm 2007) cho chị H nuôi dưỡng sau khi công nhận thuận tình ly hôn giữa chị H và anh M. Nhưng trên thực tế và tại phiên tòa phúc thẩm chị H và anh M đều thừa nhận: trước khi ly hôn, cháu T sống với anh M và ông bà nội. Chị H là công nhân, không có điều kiện chăm sóc con nhỏ. Anh M là thợ mộc, làm tại nhà nên là người trực tiếp đưa đón cháu T đi học và chăm lo cho cháu. Sau khi ly hôn, chị H về đón cháu để nuôi theo bản án nhưng cháu không chịu đi theo mẹ. Hơn nữa, sau khi ly hôn, chị H không có nhà ở, sống cùng cha mẹ và làm công nhân tại Đà Nẵng. Do đó, cấp phúc thẩm đã sửa án sơ thẩm, giao cháu T cho anh M nuôi dưỡng.
Ví dụ 3.Trước khi được Tòa án cấp sơ thẩm xử cho ly hôn, ông H và bà L ly thân từ tháng 5 năm 2012, bà L nuôi cháu Q (sinh năm 2006) còn ông H nuôi cháu T (sinh năm 2008), hai bên sống riêng ổn định, điều kiện nuôi dạy các cháu không có trở ngại gì lớn. Thế nhưng, Tòa án cấp sơ thẩm lại xử giao cháu T cho bà L nuôi, giao cháu Q cho ông H nuôi. Ông H kháng cáo việc này, xét thực tiễn cuộc sống và quyền lợi của các cháu, cấp phúc thẩm đã sửa án sơ thẩm, xử giao cháu T cho ông H nuôi, giao cháu Q cho bà L nuôi nhằm khỏi xáo trộn cuộc sống bình thường của các cháu.
Dạng sai sót thứ hai: Phán quyết của Hội đồng xét xử về việc giao con chung cho một bên nuôi thường kèm theo nghĩa vụ cấp dưỡng của bên không nuôi con chung theo qui định tại Điều 92 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong đó, nguyên tắc xem xét nguyện vọng không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bên được giao nuôi con phải tuân thủ hướng dẫn tại điểm 11 Nghị quyết số 02/2000/HĐTP: Trong trường hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp dưỡng vì lý do nào đó thì Toà án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con là quyền lợi của con để họ biết nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng nuôi con.”
Đa số các phán quyết của Hội đồng xét xử về nội dung này là đảm bảo pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, khi giải quyết yêu cầu về cấp dưỡng trong những vụ án mà bên nuôi con chung không yêu cầu bên kia thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, bản án của Hội đồng xét xử thường chú tâm vào việc phân tích nguyện vọng của người được nuôi con (tức là xem xét việc từ chối nhận cấp dưỡng của người nhận nuôi con có tự nguyện không)chưa làm rõ, chưa phân tích kỹ trong bản án các điều kiện đủ kèm theo là “họ có đầy đủ khả năng, điều kiện nuôi dưỡng con” như Nghị quyết đã hướng dẫn hay không.
Bởi lẽ thực tiễn cho thấy, có không ít trường hợp vì tự ái cá nhân hoặc vì muốn chấm dứt hoàn toàn mối quan hệ với vợ hoặc chồng sau khi ly hôn nên người được giao nuôi con chung không quan tâm đến lợi ích của con, “chủ quan” nhất quyết không cần bên kia thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Trong khi đó, nhu cầu sống, phát triển của trẻ em sau thời điểm ly hôn khác và lớn hơn rất nhiều so với lúc Tòa án giải quyết ly hôn; pháp luật hôn nhân gia đình và thực tiễn cuộc sống khẳng định rõ quyền yêu cầu cấp dưỡng nuôi con không phải chỉ của người được giao nuôi con mà là của chính người được cấp dưỡng – con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng bị tâm thần, bị khiếm khuyết về thể chất không có khả năng lao động - và mục đích cuối cùng của chế định cấp dưỡng là phục vụ nhu cầu sống, phát triển tối thiểu của con chung sau khi vợ chồng ly hôn. Do đó nội dung của Nghị quyết số 02/2000/NQ - HĐTP mới qui định “Tòa án có quyền xem xét tính tự nguyện kèm theo điều kiện cần thiết về khả năng kinh tế, hoàn cảnh cuộc sống của người nhận nuôi con” để phán quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của người không được giao nuôi con. Những sai sót này kéo theo một hệ lụy là chỉ một thời gian ngắn sau khi ly hôn, có rất nhiều trường hợp người được giao nuôi con chung lại làm đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu bên không nuôi con phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
III. Nguyên nhân của những sai sót, tồn tại:
Các sai sót, tồn tại trên xuất phát từ các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi mạnh dạn nêu ra một số nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất: Sau gần 14 năm có hiệu lực thi hành, nhất là trong điều kiện xã hội phát triển nhanh như hiện nay, các chế định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đã bắt đầu phát sinh nhiều vấn đề bất cập, không đáp ứng kịp yêu cầu cấp thiết và tính thực tiễn của xã hội. Những quan hệ xã hội về hôn nhân gia đình mới phát sinh chưa được qui định hoặc đã được qui định nhưng chưa được hướng dẫn là nguyên nhân chính dẫn đến kết quả phán quyết của Hội đồng xét xử không thống nhất, thiếu giá trị áp dụng vào thực tiễn, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, nhất là quyền lợi của các con sau khi cha, mẹ ly hôn.
Thứ hai: Lượng án hôn nhân và gia đình hằng năm tăng mạnh trong điều kiện biên chế Thẩm phán, Thư ký Tòa án không tăng. Điều này tạo áp lực lớn về tiến độ công việc khi giải quyết loại án này. Chính yêu cầu phải giải quyết nhanh, giải quyết sớm vụ việc đã khiến Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân thiếu kiên trì trong hòa giải đoàn tụ, phán quyết vụ việc khi chứng cứ pháp lý chưa chắc chắn, thiếu tính thuyết phục.
Thứ ba: Trong thực tiễn, vẫn còn quan niệm cho rằng án hôn nhân gia đình là loại án dễ làm, là dạng việc “nhẹ” nhất trong các loại án. Từ quan niệm này, một số ít Thẩm phán, Hội thẩm  nhân dân thiếu đầu tư nghiên cứu khi tham gia xét xử. Trong khi đó, theo yêu cầu của xã hội thì Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử án hôn nhân gia đình phải là người có năng lực tốt về nghiệp vụ, có kiến thức sâu, rộng về hôn nhân, gia đình, xã hội; có tinh thần, trách nhiệm cao với cuộc sống cộng đồng. Tồn tại này có cả trong tâm lý phân công người tiến hành tố tụng của số ít lãnh đạo Tòa án cấp sơ thẩm.
Thứ tư: Số ít cán bộ Tòa án còn thiếu tinh thần trách nhiệm với công việc và với nhân dân, còn “tránh việc nặng”, giải quyết yêu cầu của nhân dân theo kiểu “dễ làm, khó bỏ”. Đây là nguyên nhân cơ bản khiến một quan hệ pháp luật tranh chấp bị tách ra làm nhiều vụ án phải thụ lý, giải quyết nhiều lần, gây phiền hà cho đương sự.
III. Một số vấn đề cần quan tâm khi xét xử án Hôn nhân & gia đình:
Để nâng cao chất lượng xét xử các vụ án hôn nhân và gia đình trong thời gian tới, đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội về trách nhiệm của Tòa án trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương, qua bài viết này, chúng tôi mong rằng đồng nghiệp quan tâm trên tinh thần cầu thị, nhìn nhận toàn diện các sai sót, tồn tại trên để xác định phần việc, trách nhiệm của mỗi người trong việc khắc phục những sai sót, tồn tại đó. Theo đó, chúng tôi trao đổi một số vấn đề sau:
Một là: Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét thận trọng nội dung, nguồn và giá trị các chứng cứ chứng minh thực trạng hôn nhân của đương sự, chứng minh các yêu cầu về chia tài sản chung, trả nợ chung, nuôi con chung. Khi các chứng cứ trên không có hoặc có nhưng chưa đầy đủ thì các thành viên Hội đồng xét xử có thể trao đổi với nhau để thu thập, xác minh, làm rõ trước khi mở phiên tòa xét xử. Trong đó, Hội thẩm nhân dân phải phát huy trách nhiệm của mình khi thực hiện vai trò đại diện cho nhân dân khi tham gia xét xử; làm tốt công tác hòa giải hôn nhân khi xét xử, bảo vệ tốt quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ, trẻ em; phòng ngừa, chống các hành vi bạo lực gia đình, tuyên truyền, giáo dục, vận động các đối tượng khắc phục những hành vi sai trái; phải làm rõ, đối chiếu các chứng cứ thu thập được với thực trạng hôn nhân theo lời khai của đương sự tại phiên tòa, kể cả trường hợp các đương sự đã thuận tình ly hôn trước đó. Việc làm này vừa hạn chế được những trường hợp xin ly hôn chỉ do xích mích nhỏ nhặt, vợ, chồng trẻ tuổi, suy nghĩ nông cạn, tình trạng hôn nhân chưa đến mức không thể hàn gắn được hoặc tránh gặp phải những sai sót do đương sự lừa dối để làm thủ tục ly hôn nhằm trốn tránh nghĩa vụ với bên thứ ba hoặc đi nước ngoài trái pháp luật.
Hai là: Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử phải xem xét kỹ yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên hòa giải đối với phần tài sản chung, nợ chung, con chung để hỏi lại nguyện vọng của các bên tại phiên tòa. Tránh trường hợp đương sự không hiểu biết pháp luật, nôn nóng ly hôn, dẫn đến sau khi án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị, đương sự lại yêu cầu giải quyết phần tài sản hoặc án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị nhưng đương sự lại có đơn khiếu nại về phần tài sản chung hoặc sau khi bản án ly hôn có hiệu lực Tòa án phải tiến hành giải quyết tiếp một vụ án chia tài sản nữa khi các bên liên quan có đơn khởi kiện chia tài sản chung.
Trường hợp các bên đã được Tòa án cho ly hôn nhưng làm đơn khởi kiện chia tài sản chung (vì bản án, quyết định ly hôn của Tòa án chưa giải quyết phần tài sản chung) thì Tòa án phải thụ lý bằng một vụ án dân sự, không thụ lý vào án hôn nhân và gia đình. Ngoài ra, khi nghiên cứu hồ sơ các loại vụ án dân sự này, Hội đồng xét xử phải lưu ý kỹ chứng cứ bắt buộc phải có là bản án hoặc quyết định về vụ án hôn nhân mà Tòa án đã giải quyết trước đó. Chứng cứ này quyết định hai vấn đề: Thứ nhất là cơ sở để Hội đồng xét xử xác định phần tài sản chung đã được giải quyết hoặc đã giải quyết dứt diểm ở vụ án hôn nhân chưa để xem xét điều kiện khởi kiện của đương sự; thứ hai là xác định mỗi quan hệ hôn nhân của các đương sự có hợp pháp hay không để xem xét tài sản chung mà các bên yêu cầu chia thuộc lại tài sản chung hợp nhất (của vợ chồng) hay tài sản chung theo phần (của những người không phải vợ, chồng hợp pháp) nhằm làm cơ sở phân định quyền lợi, phẩn tài sản của mỗi bên khi phán quyết.
Kết quả phán quyết về phân chia tài sản chung phải trên cơ sở tính hợp pháp hay không hợp pháp của mối quan hệ hôn nhân giữa các đương sự. Khi phán quyết về việc phân chia tài sản chung, Hội thẩm nhân dân phải xem xét kỹ các chứng cứ chứng minh về nguồn gốc tài sản, đặt tính của tài sản, loại tài sản, thực tiễn sử dụng tài sản của các bên trước khi ly hôn và nhu cầu sử dụng tài sản của mỗi bên sau khi ly hôn. Phân định rõ tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân, trước thời kỳ hôn nhân và sau khi các bên không còn sống chung với nhau nhiều năm nhưng chưa ly hôn, để xác định quyền lợi, phân chia giá trị tài sản và giao tài sản cho mỗi bên đúng với pháp luật, phù hợp với công sức đóng góp của các bên, đáp ứng được nhu cầu cuộc sống hiện tại và sau này của mỗi bên. Đặc biệt quan tâm đến nhu cầu cuộc sống thiết yếu về nhà ở, vật kiến trúc, quyền sử dụng đất nông nghiệp, lâm nghiệp, phương tiện kinh doanh, buôn bán phục vụ cuộc sống của các bên khi phán quyết việc giao tài sản cho các bên nhận sử dụng và sở hữu. Đối với quyền sử dụng đất, Hội đồng xét xử phải xem xét chứng cứ về quan điểm của cơ quan quản lý hành chính nhà nước khi giao đất cho đương sự (nguồn gốc, diện tích, vị trí, thủ tục…), nhất là trường hợp giao đất cho hộ gia đình để xem xét quyền lợi của vợ, chồng, con..và các thành viên khác trong hộ gia đình khi giải quyết vụ án.
Ba là: Phải căn cứ vào qui định của pháp luật Hôn nhân và gia đình, nhu cầu sống, điều kiện phát triển, tương lai của con chung để xem xét, phán quyết giao con chung cho bên nào nuôi. Chú ý các yêu cầu thiết yếu về điều kiện con người, giới tính, thời gian chăm sóc trẻ nhỏ; yếu tố ổn định về mặt tâm lý, học tập của trẻ; nhân cách, cách thức giáo dục trẻ của người nhận nuôi.
Ngoài tính tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của người được giao nuôi con , khi xét xử, Hội đồng xét xử phải làm rõ các yếu tố liên quan đến khả năng nuôi con, điều kiện kinh tế, hoàn cảnh cuộc sống của người được giao nuôi con để phán quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con của bên còn lại. Các nội dung này phải được phân tích rõ trong bản án.
IV. Kết luận:
Pháp luật tôn trọng các quyền kết hôn, ly hôn của công dân. Kết quả xét xử án hôn nhân và gia đình phải tuân thủ pháp luật và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị tại địa phương, góp phần cùng toàn xã hội xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, thực hiện tốt chủ trương xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Điều này đặt ra yêu cầu thường xuyên và trách nhiệm lớn cho các Hội đồng xét xử. Chúng tôi kỳ vọng rằng bài viết đề này sẽ là nguồn tư liệu cần thiết để đồng nghiệp nghiên cứu, vận dụng vào quá trình xét xử, góp phần cùng Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Quảng Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
 

Tác giả bài viết: Hiếu Hiển