Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân với mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý

2367

Thực hiện đổi mới về tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án nhân dân các cấp theo quan điểm, chủ trương của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, phù hợp với nội dung quy định của Hiến pháp năm 2013, Tòa án nhân dân đang khẩn trương xây dựng Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi. Đây là dự án luật có tầm quan trọng đặc biệt đối với hệ thống Tòa án trong việc thực hiện quyền Tư pháp đã được hiến định trong Hiến pháp năm 2013.

Dưới đây, Cổng Thông tin điện tử TAND tối cao xin trân trọng giới thiệu bài viết của đồng chí Trương Hòa Bình, Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Trưởng ban soạn thảo dự án Luật Tổ chức Tòa án nhân dân về việc tiếp tục hoàn thiện mô hình và hoạt động của TAND.

Tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân,

tương xứng với chức năng, nhiệm vụ “Tòa án là cơ quan xét xử của

nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”

                                                                             Trương Hòa Bình

                                                                        Bí thư Trung ương Đảng

                                                                Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Cải cách tư pháp nói chung, cải cách Tòa án nói riêng là những nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị và xây dựng, củng cố Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đã được khẳng định trong nhiều văn kiện quan trọng của Đảng, như: Nghị quyết Trung ương 8 Khóa VII; Nghị quyết Trung ương 3 và 7 Khóa VIII; Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng; Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”. Đặc biệt, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”; Kết luận số 79-KL/TW ngày 28/07/2010 của Bộ Chính trị; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI… đã đề ra nhiệm vụ xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án theo hướng: “Tổ chức hệ thống Tòa án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm: Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Tòa án cấp cao được tổ chức theo khu vực có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm; Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm. Việc thành lập Tòa chuyên trách phải căn cứ vào thực tế xét xử của từng cấp Tòa án, từng khu vực. Đổi mới tổ chức Tòa án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn với đội ngũ Thẩm phán là những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, có kinh nghiệm trong Ngành”.Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị “về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, đã đề ra nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân, với mục tiêu là xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao. Ngày 28-7-2010, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 79-KL/TW về “Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án, Viện kiểm sát và Cơ quan điều tra theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”, trong đó một lần nữa xác định phương hướng tổ chức Toà án theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, gồm 4 cấp là Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao. Ngày 28-11-2013, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp mới, trong đó quy định Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp, thể hiện sự phân công quyền lực Nhà nước mạch lạc, đề cao trách nhiệm của Tòa án trong việc thực hiện quyền tư pháp; Tòa án có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến của nước ta, trong Hiến pháp được quy định rõ “Tòa án thực hiện quyền tư pháp”.Theo quy định của Hiến pháp mới, tại Chương VIII về Tòa án nhân dân, nhiều nội dung quan trọng về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ (khoản 1 và 3 Điều 102); cơ cấu tổ chức (khoản 2 Điều 102); nguyên tắc và hoạt động của Tòa án nhân dân (Điều 103); về Thẩm phán và Hội thẩm (khoản 3 Điều 105); Hiến định nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán và Hội thẩm (khoản 2 Điều 103); Đề cao việc tranh tụng tại Tòa án (khoản 5 Điều 103); đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật (Điều 104)…đều đã được bổ sung, sửa đổi. Đây là những nội dung lớn, cần được cụ thể hóa trong Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) để phù hợp với quy định của Hiến pháp mới, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, hoàn thiện mô hình tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân,xứng tầm là cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền, thực sự là chỗ dựa của nhân dân về công lý, góp phần tích cực vào việc bảo vệ và khôi phục những quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị xâm phạm.Triển khai thực hiện những quy định của Hiến pháp mới, Tòa án nhân dân tối cao xác định công việc cấp thiết đầu tiên là khẩn trương tổng kết, nghiên cứu, xây dựng, lấy ý kiến rộng rãi đóng góp vào Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi) để phù hợp với những quy định của Hiến pháp; đồng thời, nghiên cứu làm rõ, sâu sắc, đầy đủ nội hàm của quyền tư pháp, làm cơ sở thực hiện đúng đắn quyền này. Mặt khác, tiếp tục hoàn thiện Đề án tổng thể về thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp cao, đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao; đặt ra mục tiêu, nguyên tắc, phương hướng, nội dung, từng bước đi và phân công trách nhiệm trong việc xây dựng, chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc tổ chức lại hệ thống Tòa án theo chức năng, nhiệm vụ đã được Hiến định là “Cơ quan xét xử của nước CHXHCN Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”, đáp ứng yêu cầu của cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN trong giai đoạn mới.1/- KHÁI QUÁT THỰC TRẠNG TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN HIỆN NAYTheo quy định tại Điều 1 và Điều 2 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật; cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án theo địa giới hành chính: Ở trung ương có Tòa án nhân dân tối cao, ở địa phương có các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện. Ngoài ra, còn có các Tòa án Quân sự được tổ chức trong quân đội để xét xử những vụ án hình sự theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Trong trường hợp đặc biệt, Quốc hội có thể thành lập các Tòa án đặc biệt.Trên phạm vi toàn quốc, hiện nay có 742 Tòa án nhân dân, bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao, 63 Tòa án nhân dân cấp tỉnh, 678 Tòa án nhân dân cấp huyện (không tính các Tòa án quân sự). Về thẩm quyền xét xử, hệ thống Tòa án nhân dân có thể phân thành 741 Tòa án cấp sơ thẩm (bao gồm 678 Tòa án cấp huyện và 63 Tòa án cấp tỉnh); 66 Tòa án cấp phúc thẩm (bao gồm 63 Tòa án cấp tỉnh và 3 Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao); 69 cơ quan xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm (bao gồm 63 Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, 5 Tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ). Về cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao: Tòa án nhân dân tối cao có Hội đồng Thẩm phán; Tòa Hình sự, Tòa Dân sự, Tòa Kinh tế, Tòa Lao động, Tòa Hành chính, 03 Tòa Phúc thẩm, Tòa án Quân sự trung ương, bộ máy giúp việc.Về số lượng cán bộ, Thẩm phán, cho đến nay tổng biên chế toàn hệ thống Tòa án nhân dân hiện có 12.763 người; trong đó Tòa án nhân dân tối cao có 645 người (104 Thẩm phán), Tòa án nhân dân cấp tỉnh có 3525 người (1.042 Thẩm phán) và Tòa án nhân dân cấp huyện có 8.593 người (3.813 Thẩm phán). So với biên chế được phân bổ, hiện toàn hệ thống còn thiếu 761 người, chủ yếu là ở cấp huyện (498 người/695 huyện).Về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị, 100% Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, 95% Thẩm phán Tòa án  cấp tỉnh và cấp huyện có trình độ cử nhân luật; 90% Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, 66% Thẩm phán Tòa án cấp tỉnh và  20% Thẩm phán Tòa án cấp huyện có trình độ cử nhân chính trị hoặc cao cấp lý luận chính trị. Về phẩm chất đạo đức, 100% Thẩm phán Tòa án nhân dân các cấp là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đa số đáp ứng yêu cầu, tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức đối với người cán bộ, Đảng viên theo quy định của Trung ương.Trên thực tế, nếu tính theo định mức xét xử hiện nay quy định đối với Tòa án cấp tỉnh, cấp huyện trên các địa bàn và tổng số lượng án phải thụ lý, xét xử với tỷ lệ gia tăng án hàng năm là 15%, trong vòng 5 năm tới, hệ thống Tòa án nhân dân cần bổ sung mỗi năm khoảng 1000 người, trong đó có khoảng 500 Thẩm phán thì mới đáp ứng yêu cầu công tác xét xử. Tuy nhiên, vấn đề lo ngại không chỉ dừng ở việc thiếu số lượng, mà vấn đề về trình độ, năng lực chuyên môn của đội ngũ Thẩm phán cũng đang được đặt ra trước yêu cầu, đòi hỏi ngày càng cao của cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế do trình độ, năng lực của đội ngũ Thẩm phán về ngoại ngữ và kiến thức pháp luật quốc tế còn nhiều hạn chế, trong khi thực tiễn đã bắt đầu phát sinh nhiều loại vụ án phức tạp cả về hình sự, dân sự, kinh doanh – thương mại, lao động có yếu tố nước ngoài.Về cơ sở vật chất của các Tòa án, do trong thời gian dài chưa được quan tâm đúng mức và do tình hình chia tách địa giới hành chính cấp tỉnh, cấp huyện trong hơn mười năm qua, nên hiện nay trụ sở làm việc và hội trường xét xử của nhiều Tòa án, nhất là ở cấp huyện còn thiếu thốn, chật chội, thậm chí có đơn vị vẫn chưa được cấp đất để xây dựng trụ sở mà phải thuê nơi làm việc và hội trường xét xử. Bên cạnh đó, phương tiện làm việc, kinh phí hoạt động, chế độ chính sách đối với Tòa án được cấp như định mức đối với cơ quan hành chính sự nghiệp, chưa thực sự phù hợp với tính chất đặc thù, đặc biệt của công tác xét xử, của cơ quan đặc biệt thực hiện quyền tư pháp quốc gia, từ đó làm hạn chế đến hiệu quả công tác của các Tòa án.Về hoạt động xét xử của các Tòa án, trong những năm gần đây, số lượng các loại vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án liên tục tăng mạnh, trung bình mỗi năm tăng khoảng 15%, làm cho công việc của các Tòa án ngày càng quá tải. Tính từ tháng 10/2012 đến 30/09/2013, toàn hệ thốngTòa án nhân dân đã giải quyết được 364.819 vụ án các loại trong tổng số 395.415 vụ án đã thụ lý (đạt tỷ lệ 92,3%); số vụ án còn lại hầu hết là mới thụ lý và còn trong thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật. So với cùng kỳ năm trước, số vụ án đã thụ lý tăng 34.474 vụ; đã giải quyết tăng 31.951 vụ; tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán giảm 0,12%.2/- MỘT SỐ BẤT CẬP VÀ TỒN TẠI CHỦ YẾU VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG TÒA ÁN NHÂN DÂNQua quá trình chỉ đạo, nghiên cứu, khảo sát, đánh giá về thực trạng tổ chức và hoạt động của các Tòa án nhân dân, cho thấy tồn tại và bất cập chủ yếu của hệ thống Tòa án nhân dân thể hiện như sau:  Thứ nhất, thẩm quyền xét xử của mỗi Tòa án hiện đang được xác định vừa theo lãnh thổ, vừa theo tính chất các vụ việc và thủ tục giải quyết, xét xử các vụ án. Theo quy định của pháp luật tố tụng, Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, các Tòa án cấp trên đều có thẩm quyền xét xử hỗn hợp hoặc vừa phúc thẩm, vừa giám đốc thẩm như của Tòa án nhân dân tối cao, hoặc có đầy đủ cả ba thẩm quyền xét xử theo trình tự giải quyết một vụ án: Vừa xét xử sơ thẩm, vừa phúc thẩm, vừa giám đốc thẩm, tái thẩm như ở Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Điều này không thể hiện đúng, chính xác tính chất hoạt động, vai trò, vị trí của Tòa án mỗi cấp quy định trong hệ thống Tòa án. Trên thực tế, mặc dù đã từng bước tăng thẩm quyền xét xử cho các Tòa án nhân dân cấp huyện, nhưng các Tòa án nhân dân cấp tỉnh vẫn phải giải quyết số lượng không nhỏ các vụ án theo thủ tục sơ thẩm mà lẽ ra các vụ án này phải được xét xử, giải quyết ở Tòa án cấp huyện với tư cách là Tòa án sơ thẩm trong hệ thống Tòa án.Các bản án, quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, về mặt lý thuyết và cả trên thực tế vẫn có thể bị hủy bởi Tòa án nhân dân tối cao, nên làm hạn chế ý nghĩa pháp lý của chế định giám đốc thẩm, tái thẩm. Tòa án nhân dân tối cao vẫn tiếp tục giải quyết, xét xử phúc thẩm đối với các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị và trên thực tế, không ít các bản án, quyết định phúc thẩm của các Tòa án phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao đã bị kháng nghị và bị hủy theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bởi chính Tòa án nhân dân tối cao. Điều này, vô hình chung đã làm ảnh hưởng đến vai trò, uy tín pháp lý của Tòa án nhân dân tối cao với tư cách là cơ quan xét xử cao nhất trong hệ thống Tòa án.Bên cạnh đó, việc pháp luật quy định chế định giám đốc thẩm, tái thẩm là nhằm tạo cơ chế khắc phục các sai lầm trong việc giải quyết, xét xử các vụ án, để thống nhất trong việc áp dụng pháp luật và đường lối xét xử trên bình diện chung của cả hệ thống Tòa án. Tuy nhiên, việc có quá nhiều cơ quan có thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm (63 Tòa án cấp tỉnh, 5 Tòa chuyên trách của Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao), thì mục tiêu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật và xác định đường lối xét xử chung của chế định giám đốc thẩm, tái thẩm sẽ bị ảnh hưởng. Trên thực tế, đã có những quyết định giám đốc thẩm của Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp tỉnh, hoặc thậm chí có trường hợp Quyết định giám đốc thẩm của Tòa chuyên trách Tòa án nhân dân tối cao đã bị Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tuyên hủy.Ngoài ra, việc có nhiều cấp giám đốc thẩm cùng với quy định không hạn chế về điều kiện kháng nghị và thủ tục không rõ ràng trong việc xem xét đơn đề nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, một mặt làm cho việc giải quyết một vụ án kéo dài, thậm chí không có điểm dừng, mặt khác làm mất tính ổn định trong các phán quyết của Tòa án và ở một chừng mực nào đó, làm vô hiệu hóa nguyên tắc Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử.Thứ hai, về nhiệm vụ và tổ chức công việc của Tòa án các cấp. Ở Tòa án nhân dân tối cao vẫn còn nặng về xét xử phúc thẩm bên cạnh việc phải thực hiện các nhiệm vụ rất quan trọng khác là giám đốc việc xét xử của các Tòa án, tổng kết kinh nghiệm xét xử và hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, quản lý các Tòa án địa phương về tổ chức.Tòa án nhân dân cấp tỉnh, tuy có vị trí là Tòa án cấp dưới, nhưng có vai trò  vừa là cấp sơ thẩm, phúc thẩm, vừa là một cấp giám đốc thẩm, tái thẩm; ngoài ra, Tòa án cấp tỉnh còn có nhiệm vụ quản lý các Tòa án nhân dân cấp huyện về tổ chức theo phân cấp của Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, sức ép về công việc đối với Tòa án nhân dân cấp tỉnh cũng không phải nhỏ, nhất là đối với Tòa án các Thành phố lớn. Đối với Tòa án nhân dân cấp huyện, do được tổ chức ở đơn vị hành chính cấp huyện nên dàn trải, nhiều đầu mối, có nơi quá nhiều việc, có nơi lại quá ít việc.Trên thực tế, những bất cập nói trên về tổ chức và hoạt động của các Tòa án đang gây ra những trở ngại, khó khăn cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ, cơ sở vật chất và tổ chức công việc để nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác ở Tòa án mỗi cấp và ở từng Tòa án. Đối với các Tòa án cấp huyện có khối lượng lớn về công việc (như các Tòa án thành phố, thị xã thuộc tỉnh của các thành phố trực thuộc trung ương), thì việc xây dựng đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất luôn là gánh nặng và là vấn đề bức xúc do xuất phát từ yêu cầu phải giải quyết một khối lượng công việc về chuyên môn quá lớn và ngày càng tăng theo đà phát triển kinh tế – xã hội ở các địa phương đó. Ngược lại, đối với những Tòa án cấp huyện ở khu vực miền núi phía Bắc, Tây Nguyên có khối lượng công việc phải giải quyết không đáng kể, nhưng vẫn phải bố trí đủ cán bộ theo cơ cấu tổ chức bộ máy của Tòa án theo quy định và yêu cầu phải có trụ sở, phương tiện làm việc như các đơn vị khác, nên đã gây ra lãng phí không đáng có về nhân lực và vật lực.Mặt khác, do được tổ chức theo đơn vị hành chính nên Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện được coi là các Tòa án nhân dân địa phương, nên địa vị pháp lý của những Tòa án cấp này chưa được xác định một cách chính xác, hợp lý và chưa phù hợp với vai trò, vị trí của Tòa án trong bộ máy quyền lực Nhà nước. Cụ thể: Tòa án nhân dân tối cao được xem như một cơ quan Bộ, ngành ở trung ương, Tòa án nhân dân cấp tỉnh được xác định giống như một cơ quan cấp sở của tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện được xem như một cơ quan cấp phòng của huyện. Do đó, việc xử lý, giải quyết các vấn đề có liên quan đến tổ chức của các Tòa án còn chưa thực sự thỏa đáng. Chế độ tiền lương, phụ cấp đối với cán bộ, công chức, Thẩm phán Tòa án các cấp được quy định như các ngạch cán bộ, công chức hành chính nhà nước khác là không đáp ứng được yêu cầu công tác xét xử và không tương xứng với vị trí, vai trò và tính chất hoạt động đặc biệt của cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong bộ máy quyền lực Nhà nước. Hiện tại, việc xây dựng, kiện toàn, bổ sung đội ngũ cán bộ và việc cải thiện cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho các Tòa án gặp nhiều khó khăn mà nguyên nhân có phần xuất phát từ những yếu tố bất cập mang tính khách quan nói trên.Thứ ba, do các Tòa án địa phương được tổ chức theo đơn vị hành chính, chịu sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp nên thực tế cho thấy, nơi nào cấp ủy và Hội đồng nhân dân quan tâm theo hướng tích cực và đúng quy định của pháp luật đến công tác tư pháp thì Tòa án nơi đó có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng đội ngũ cán bộ và thực hiện nhiệm vụ xét xử được giao.Ngược lại, nơi nào cấp ủy, Hội đồng nhân dân không quan tâm đúng mức đến công tác Tòa án hoặc để xảy ra tình trạng buông lỏng sự chỉ đạo, giám sát hay can thiệp quá sâu vào việc xét xử của Tòa án thì công tác Tòa án gặp nhiều khó khăn, phức tạp, thậm chí ảnh hưởng đến tính chất độc lập trong hoạt động xét xử.Thứ tư, tồn tại cơ bản, chủ yếu trong suốt thời gian qua là hệ thống Tòa án nhân dân chưa được đặt đúng vị trí trong cơ cấu quyền lực Nhà nước; chưa xác định đúng đắn chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là cơ quan thực hiện quyền tư pháp – Quyền lực đặc biệt bảo vệ công bằng, công lý của Quốc gia, bảo vệ quyền con người, quyền công dân bằng các hoạt động của Tòa án. Do đó, chức năng, nhiệm vụ, mô hình tổ chức và nguyên tắc hoạt động, chế độ đãi ngộ, cơ sở vật chất…của Tòa án chưa được nhận thức và xác định đúng tầm, chưa đảm bảo đầy đủ các yếu tố để Tòa án nhân dân hoàn thành tốt nhiệm vụ và sứ mệnh cao cả là Bảo vệ công lý mà Đảng, nhân dân giao phó.3/- ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG TÒA ÁN NHÂN DÂNĐể việc triển khai thực hiện thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp cao, đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, cần phải đặt ra và giải quyết rất nhiều vấn đề cụ thể trong Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi, như: Xác định nguyên tắc thành lập; vị trí và mô hình; nhiệm vụ, thẩm quyền; tên gọi; tiêu chí thành lập và xác định số lượng; cơ cấu tổ chức; biên chế; cán bộ và cơ sở vật chất; mối quan hệ với các cơ quan công tố và điều tra; mối quan hệ giữa các cấp Tòa án; sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử; về việc bầu Hội thẩm nhân dân; quản lý về tổ chức đối với các Tòa án; đưa ra các giải pháp và phân công trách nhiệm tổ chức thực hiện…Về quan điểm chỉ đạo xây dựng Dự thảo Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), Tòa án nhân dân tối cao chú trọng một số vấn đề cơ bản sau đây: (1) Thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng về cải cách tư pháp, trong đó có yêu cầu xây dựng nền tư­ pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư­ pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử đ­ược tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao; tổ chức Tòa án theo thẩm quyền xét xử, bảo đảm nguyên tắc độc lập trong hoạt động của Tòa án; (2) Cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp được Quốc hội thông qua ngày 28-11-2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-2014 về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân; (3)Tạo cơ sở pháp lý để đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án nhân dân theo h­ướng hợp lý, khoa học và hiện đại về cơ cấu tổ chức và điều kiện, phương tiện làm việc, khắc phục những tồn tại, bất cập hiện nay trong tổ chức và hoạt động của Toà án; bảo đảm cho Tòa án thực hiện tốt chức năng xét xử, thực hiện quyền tư pháp của quốc gia; phục vụ có hiệu quả công cuộc đổi mới đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; (4) Kiện toàn, nâng cao trình độ, năng lực, bản lĩnh chính trị của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh tư pháp khác trong Toà án nhân dân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới của đất nước.Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đưa ra định hướng giải quyết một số vấn đề cụ thể về đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống Tòa án nhân dân các cấp.3.1 Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực– Nguyên tắc thành lập, nhiệm vụ, thẩm quyền và số lượng các Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vựcTrong quá trình xây dựng Đề án, có quan điểm cho rằng có thể thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện trong cùng một tỉnh hoặc khác tỉnh, vì trong Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 chỉ nêu Tòa án sơ thẩm cấp khu vực được tổ chức không phụ thuộc vào đơn vị hành chính và được thành lập ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện, không xác định rõ là các huyện trong cùng một tỉnh hay ở cả các tỉnh khác nhau. Tuy nhiên, phương án mỗi Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực được thành lập trên cơ sở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện trong cùng một tỉnh sẽ bảo đảm và xác định được sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự giám sát của Hội đồng nhân dân một tỉnh nhất định đối với tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân cấp khu vực đó.Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực được coi là Tòa án cấp thứ nhất trong hệ thống Tòa án, có nhiệm vụ và thẩm quyền chung là xét xử, giải quyết theo thủ tục sơ thẩm các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh – thương mại, tuyên bố phá sản, lao động, hôn nhân – gia đình, hành chính theo quy định của pháp luật tố tụng. Bên cạnh thẩm quyền chung như nêu trên, thẩm quyền cụ thể của từng Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực sẽ được xác định theo quản hạt tư pháp và theo tính chất của những vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực là Tòa án chuyên xét xử, giải quyết các vụ việc theo thủ tục sơ thẩm, Tòa án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm là chủ yếu, nhưng vẫn có nhiệm vụ xét xử sơ thẩm một số vụ án. Do vậy, vẫn cần phải có các quy định của pháp luật tố tụng về các loại vụ án thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh. Việc xác định thẩm quyền theo vụ việc đối với các Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực cần phải có lộ trình hợp lý để vừa bảo đảm hoạt động bình thường của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực khi mới thành lập, vừa bảo đảm yêu cầu của cải cách tư pháp.Việc xác định thành lập khoảng bao nhiêu Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực trong một tỉnh cần dựa trên những tiêu chí nhất định, như: số lượng các loại vụ án xảy ra trong địa bàn; quy mô về địa giới hành chính; số lượng dân cư, đặc điểm địa lý; quy hoạch tổng thể và điều kiện phát triển kinh – tế xã hội khu vực dự kiến sẽ thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. Trong đó, số lượng các vụ án và giới hạn địa bàn khu vực địa lý là những tiêu chí cơ bản cho việc thành lập Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực.Theo thống kê, số lượng bình quân các vụ án một năm của Tòa án cấp tỉnh cỡ trung bình là khoảng 900 vụ. Nếu lấy tiêu chí về số vụ án là từ 900 vụ trở lên và có tính đến quy mô, mức độ tập trung dân cư lớn, tốc độ phát triển kinh tế xã hội, thì có khoảng 70 đơn vị Tòa án cấp quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thể chuyển đổi thành Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực.Ở khu vực các huyện đồng bằng, có thể sáp nhập hai đơn vị Tòa án cấp huyện có số lượng giải quyết các vụ án hiện nay khoảng 300 vụ/năm/đơn vị để thành lập một Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực với số lượng các vụ án phải giải quyết khoảng 500 vụ/năm, tương đương với số vụ án bình quân của một Tòa án cấp tỉnh cỡ nhỏ là hợp lý, phù hợp với quy mô dân số và giới hạn địa bàn hành chính cấp huyện ở khu vực này. Theo thống kê, có khoảng 80 Tòa án cấp huyện hiện nay có thể chuyển đổi thành 40 Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. Các đơn vị còn lại có số vụ án trên dưới 200 vụ án/năm, thì có thể chuyển đổi 03 đơn vị thành 01 Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực.Đối với các khu vực miền núi, do có những đặc thù khác với khu vực thành thị và đồng bằng, như: mật độ dân số thấp, trình độ phát triển kinh tế xã hội chưa cao, số lượng các vụ án không nhiều, địa giới hành chính thường rộng, cơ sở hạ tầng chưa phát triển…nên cần có cách giải quyết khác cho phù hợp. Có thể vẫn tổ chức Tòa án sơ thẩm khu vực ở một huyện, hoặc nếu có điều kiện Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực sẽ được thành lập trên cơ sở hợp nhất một số Tòa án cấp huyện, với số lượng các vụ án phải giải quyết một năm khoảng trên dưới 300 vụ, tương đương với số vụ án của một Tòa án cấp tỉnh miền núi cỡ nhỏ hiện nay; trụ sở Tòa án cấp huyện cũ vẫn được giữ lại làm trụ sở chi nhánh của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. Theo đó, có thể hợp nhất 03 Tòa án cấp huyện ở miền núi thành một Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực. Mỗi Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực có một hoặc hai chi nhánh là địa điểm để thụ lý và xét xử, giải quyết các vụ án theo sự phân công của Chánh án Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực và tạo thuận lợi cho người dân, các cơ quan, tổ chức khi có việc đến Tòa án. Ngoài ra, nên triển khai tổ chức các Tòa Giản lược để xét xử các vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng, xử phạt vi cảnh; có thể bố trí Tòa Giản lược ở các Chi nhánh Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực.– Mối quan hệ giữa Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực với Tòa án nhân dân cấp trênTòa án nhân dân sơ thẩm khu vực có vị trí là Tòa án cấp thứ nhất, có mối quan hệ tố tụng và quan hệ hành chính với Tòa án nhân dân cấp trên. Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Trong trường hợp này, Tòa án nhân dân cấp tỉnh sẽ xét xử theo thủ tục phúc thẩm; Tòa án nhân dân cấp cao sẽ xét xử, giải quyết theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Đây là một điểm mới trong thủ tục giám đốc thẩm, thể hiện ở chỗ Tòa án cấp tỉnh không còn thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án cấp dưới (cấp huyện) như hiện nay. Trường hợp trong quá trình thụ lý, giải quyết các vụ việc, nếu có tranh chấp về thẩm quyền giữa các Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, khiếu nại các quyết định, hành vi tố tụng của Chánh án Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, thì Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh  có thẩm quyền giải quyết.Ngoài quan hệ tố tụng, giữa Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực và Tòa án cấp trên có mối quan hệ về hành chính, tổ chức. Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực chịu sự chỉ đạo của Tòa án cấp trên về các vấn đề tổ chức nhân sự; báo cáo thống kê, xét xử; dự toán, quyết toán kinh phí hoạt động.  – Về sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự giám sát của Hội đồng nhân dân đối với Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vựcHiện nay, theo quy định về Đảng thì Tòa án nhân dân cấp huyện nào thì chịu sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng huyện đó, tổ chức cơ sở Đảng ở Tòa án cấp huyện trực thuộc Đảng bộ cấp huyện; cấp ủy Đảng của huyện có trách nhiệm quản lý, cho ý kiến khi đề bạt, bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo và Thẩm phán Tòa án cấp huyện.Về mặt chính quyền, theo quy định của pháp luật, Chánh án Tòa án cấp huyện báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp; Hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra; Thường trực Hội đồng nhân dân có chức năng phối hợp với Tòa án nhân dân cấp tỉnh trong việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh lãnh đạo Tòa án cấp huyện. Khi Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực được thành lập và hoạt động thì vẫn phải bảo đảm nguyên tắc có sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân. Do tổ chức của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực theo hướng không phụ thuộc vào đơn vị hành chính cấp huyện, nhưng vẫn trong đơn vị hành chính cấp tỉnh, nên có thể giao cho cấp ủy Đảng cấp tỉnh thực hiện việc lãnh đạo và chỉ đạo, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh thực hiện việc giám sát đối với hoạt động của Tòa án cấp này. Tổ chức cơ sở Đảng của Tòa án sơ thẩm khu vực trực thuộc Đảng bộ Tòa án nhân dân cấp tỉnh; còn Đảng bộ Tòa án nhân dân cấp tỉnh trực thuộc tỉnh ủy hoặc thành ủy. Thường trực tỉnh ủy, thành ủy, thường trực Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phối hợp với Tòa án nhân dân tối cao trong việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm lãnh đạo Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực và Tòa án nhân dân cấp tỉnh. Chánh án Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực báo cáo công tác trước Tòa án nhân dân cấp tỉnh; Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh báo cáo công tác của Tòa án mình và Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực trước Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.3.2 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương– Nguyên tắc thành lập, nhiệm vụ, thẩm quyền, sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử đối với Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.  Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi tắt là Tòa án nhân dân cấp tỉnh) có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định của Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực chưa có hiệu lực pháp luật có kháng cáo, kháng nghị và xét xử sơ thẩm một số vụ án không thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân sơ thẩm khu vực thuộc địa hạt của tỉnh. Tòa án nhân dân cấp tỉnh không thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực thuộc địa hạt tư pháp. Tuy nhiên, do Tòa án nhân dân cấp tỉnh vẫn phải báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nên Tòa án nhân dân cấp tỉnh vẫn thực hiện một số chức năng giám đốc – kiểm tra đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới nhưng Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh không có quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới, mà việc xem xét kháng nghị thuộc thẩm quyền của Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao.Mỗi đơn vị hành chính cấp tỉnh có một Toà án nhân dân cấp tỉnh như hiện nay, nhưng không còn Uỷ ban Thẩm phán. Cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân cấp tỉnh có các Tòa chuyên trách và Văn phòng Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Số lượng các Toà chuyên trách, việc thành lập các Tòa chuyên trách, các phòng chức năng thuộc Văn phòng Tòa án nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quyết định.Như vậy, trên phạm vi cả nước sẽ vẫn có 63 Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; nội dung và cơ chế lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và sự giám sát của Hội đồng nhân dân vẫn giữ nguyên như hiện nay.– Vị trí, nhiệm vụ, thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ươngTòa án nhân dân cấp tỉnh được xác định là Tòa án cấp trên của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực, cấp dưới của Tòa án nhân dân tối cao, độc lập với các Tòa án này trong giải quyết các vụ việc. Tòa án cấp tỉnh chịu sự quản lý, chỉ đạo của Tòa án nhân dân tối cao, có trách nhiệm quản lý các Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực theo sự phân cấp của Tòa án nhân dân tối cao. Theo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, Tòa án cấp tỉnh không còn chức năng giám đốc thẩm, tái thẩm. Chánh án Tòa án cấp này cũng không còn chức năng kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm. Tòa án cấp tỉnh xét xử theo thủ tục phúc thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực khi có kháng cáo, kháng nghị. Thẩm quyền xét xử sơ thẩm các vụ án của Tòa án cấp tỉnh sẽ được xác định trên nguyên tắc những vụ án nào không thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực thì thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp tỉnh. Dự kiến các vụ án lớn, các vụ án trọng điểm về hình sự, các vụ án dân sự có đương sự hoặc tài sản tranh chấp ở nước ngoài, các vụ khiếu nại đối với các quyết định hành chính liên quan đến chống bán phá giá, cạnh tranh không lành mạnh…trong khuôn khổ của WTO sẽ giao thẩm quyền xét xử cho Tòa án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thụ lý, giải quyết.3.3  Tòa án nhân dân cấp cao– Nguyên tắc thành lập, vị trí, thẩm quyền và số lượng Tòa án nhân dân cấp caoTheo Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, Tòa án nhân dân tối cao không còn thẩm quyền xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp tỉnh vẫn còn thẩm quyền xét xử sơ thẩm một số vụ án. Do đó, cần thành lập Tòa án nhân dân cấp cao để xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh bị kháng cáo, kháng nghị.  Theo nguyên tắc Tòa án thực hiện chế độ 2 cấp xét xử, Tòa án nhân dân cấp cao sẽ có thẩm quyền xét xử phúc thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị; xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị; Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm, tái thẩm các bản án, quyết định của Tòa án cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị. Về thẩm quyền theo lãnh thổ, dự kiến Tòa án nhân dân cấp cao được thành lập trên cơ sở các Tòa phúc thẩm của Tòa án nhân dân tối cao ở 03 miền Bắc-Trung-Nam như hiện nay; quản hạt tư pháp của mỗi Tòa án nhân dân cấp cao về cơ bản vẫn được xác định như địa hạt tư pháp của mỗi Tòa phúc thẩm tương ứng hiện nay. Tuy nhiên, trên cơ sở thực tiễn hoạt động, có thể tăng hoặc giảm đầu mối và điều chỉnh địa bàn xét xử giữa các Tòa án nhân dân cấp cao với nhau cho phù hợp.– Cơ cấu tổ chức, biên chế của Tòa án nhân dân cấp caoTheo lộ trình và dự tính trong tương lai, Tòa án nhân dân sơ thẩm khu vực có thẩm quyền xét xử sơ thẩm hầu hết các vụ việc; số lượng các vụ việc thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án cấp tỉnh sẽ giảm; số lượng vụ việc xét xử phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao cũng sẽ giảm so với số lượng các vụ án xét xử phúc thẩm tại các Tòa phúc thẩm thuộc Tòa án nhân dân tối cao hiện nay.Theo dự tính, số lượng án mỗi Tòa án nhân dân cấp cao sẽ phải giải quyết khoảng 1000 vụ/năm (hiện nay, 03 Tòa phúc thẩm xét xử khoảng 5500 vụ/năm, trung bình mỗi Tòa phúc thẩm xét xử khoảng 1800 vụ/năm). Với số lượng các vụ việc như vậy và để chuyên môn hóa hoạt động xét xử, thì có thể xác định cơ cấu của Tòa án nhân dân cấp cao bao gồm các Tòa chuyên trách, Ủy ban Thẩm phán và bộ máy giúp việc. Về biên chế, theo tính toán về số vụ việc và cơ cấu tổ chức, mỗi Tòa án nhân dân cấp cao cần có khoảng 100 người, trong đó có từ 30 – 35 Thẩm phán.– Sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự giám sát của cơ quan dân cử và quản lý về tổ chức đối với Tòa án nhân dân cấp caoTòa án nhân dân cấp cao có đặc thù về quản hạt tư pháp trên phạm vi nhiều tỉnh khác nhau, nên việc xác định sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự giám sát của cơ quan dân cử thuộc tỉnh nào, hiện còn có ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, Tòa án nhân dân cấp cao đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng và Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi Tòa đặt trụ sở. Tuy nhiên, theo phương án này thì sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, sự giám sát của cơ quan dân cử không phù hợp với tính chất, vị trí và địa bàn xét xử đặc thù của Tòa án nhân dân cấp cao. Do vậy, theo chúng tôi, Tòa án nhân dân cấp cao đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Ban Cán sự Đảng Tòa án nhân dân tối cao; tổ chức cơ sở Đảng của các Tòa án nhân dân cấp cao trực thuộc Đảng bộ Tòa án nhân dân tối cao; Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao báo cáo công tác trước Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (Chánh án Tòa án nhân dân tối cao báo cáo công tác của toàn hệ thống Tòa án các cấp trước Quốc hội)Chánh án Tòa án nhân dân tối cao quản lý các Tòa án nhân dân cấp cao về mặt tổ chức như đối với các Tòa phúc thẩm hiện nay, nhưng có phân cấp, ủy quyền cho Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao thực hiện một số công việc, như: biên chế, quản lý cán bộ, kinh phí và hoạt động… của Tòa án cấp này.3.4  Đổi mới tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao– Về chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của Toà án nhân dân tối caoTheo quy định tại Điều 104 của Hiến pháp mới và cơ cấu, tổ chức Tòa án nhân dân 4 cấp theo Nghị quyết 49-NQ/TW thì Tòa án nhân dân tối cao không thực hiện chức năng xét xử phúc thẩm, mà chỉ thực hiện các chức năng giám đốc việc xét xử của các Tòa án khác; xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm; tổng kết thực tiễn xét xử; bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử; quản lý các Toà án về tổ chức (quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, cán bộ, kinh phí hoạt động, cơ sở vật chất, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ…). Để cụ thể hóa nhiệm vụ“bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật” quy định tại khoản 3 Điều 104 của Hiến pháp, cần bổ sung nhiệm vụ của Tòa án nhân dân tối cao là phát triển án lệ để kịp thời giải quyết những khó khăn, vướng mắc, bảo đảm yêu cầu áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, khắc phục tình trạng quá tải và chậm ban hành văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân tối cao. Bên cạnh đó, bổ sung nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh tư pháp khác của Tòa án nhân dân tối cao để phù hợp với đòi hỏi ngày càng cao của xã hội đối với công tác Tòa án, đáp ứng yêu cầu về việc nâng cao chất lượng của đội ngũ Thẩm phán, Hội thẩm và các chức danh tư pháp khác trong Tòa án.– Về cơ cấu, tổ chức của Toà án nhân dân tối caoTheo Nghị quyết số 49-NQ/TW và Kết luận số 79-KL/TW, thì cần xây dựng tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân tối cao theo hướng tinh gọn với số lượng Thẩm phán từ 13 – 17 người, là những Thẩm phán có kinh nghiệm xét xử lâu năm, những chuyên gia đầu ngành về pháp luật, hoặc những người đã kinh qua các vị trí lãnh đạo trong hệ thống chính trị, có trình độ cử nhân Luật trở lên và có uy tín cao trong xã hội; đồng thời, có cơ cấu bộ máy giúp việc hợp lý, bảo đảm địa vị pháp lý của Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất, thực hiện quyền tư pháp của quốc gia và để phù hợp với quy định của Hiến pháp về việc Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Khoản 7 Điều 70 Hiến pháp).Do Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có số lượng hạn chế như trên, nên không tổ chức các Tòa chuyên trách ở Tòa án nhân dân tối cao như hiện nay. Chức năng xét xử của Tòa án nhân dân tối cao do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đảm nhiệm, cụ thể: các Hội đồng chuyên trách gồm 3 hoặc 5 Thẩm phán thực hiện nhiệm vụ giám đốc thẩm, tái thẩm các vụ việc theo sự phân công của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và thực hiện theo nguyên tắc đa số. Tuy nhiên, đối với những vụ án quá phức tạp, trong quá trình xét xử hội đồng xét xử chuyên trách chưa có sự nhất trí cao và thống nhất đề nghị đưa vụ án ra Hội đồng toàn thể để xét xử; Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thực hiện giám đốc thẩm, tái thẩm đối với những vụ án đặc biệt quan trọng liên quan đến quyền con người, lợi ích lớn của quốc gia và hàm chứa những mối quan hệ phức tạp trong vụ án, hoặc những vụ án giám đốc thẩm, tái thẩm của các Hội đồng xét xử chuyên trách của TANDTC chưa đạt được sự nhất trí.Các quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao trong những trường hợp này sẽ trở thành chuẩn mực trong việc áp dụng pháp luật, có giá trị hướng dẫn chung đối với Tòa án các cấp theo nguyên tắc các vụ án tương tự phải được xét xử và phán quyết như nhau. Vì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất (Điều 104 Hiến pháp) nên cần luật hóa nội dung:“Quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cao nhất, không bị kháng cáo, kháng nghị”.Bên cạnh đó, để bảo đảm thực hiện được vai trò là cơ quan cao nhất trong hệ thống Tòa án với các chức năng, nhiệm vụ quan trọng trong việc thực hiện quyền tư pháp, thì bộ máy giúp việc về chuyên môn, nghiệp vụ, hành chính tư pháp, quản lý và xây dựng hệ thống các Tòa án (bao gồm quản lý cán bộ, cơ sở vật chất, kinh phí hoạt động, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ…) của Tòa án nhân dân tối cao được thiết kế theo hướng có địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức hợp lý, khoa học để giúp Tòa án nhân dân tối cao thực hiện tốt công tác xét xử, tổng kết thực tiễn xét xử, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật và chỉ đạo, lãnh đạo, điều hành nhanh gọn, thông suốt, có hiệu lực và hiệu quả cao các mặt công tác khác; đồng thời, kế thừa và đảm bảo tính ổn định của Bộ máy tổ chức của hệ thống Tòa án.Theo đó, cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao gồm các vụ chuyên môn như hiện nay, thực hiện các nhiệm vụ thống kê – Tổng hợp, quản trị – hành chính, quản lý biên chế, kinh phí, cơ sở vật chất của các Tòa án nhân dân, giúp Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong công tác quản lý nhân sự và thực hiện chế độ, chính sách, thi đua – khen thưởng đối với cán bộ Tòa án; nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, có thể sẽ thành lập Vụ Kiểm tra Giám đốc thay cho Ban thư ký hiện nay; Thành lập Vụ pháp chế Tòa án nhân dân tối cao có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho Chánh án Tòa án nhân dân tối cao và Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, tổng kết thực tiễn xét xử và phát triển án lệ; Thực hiện Kết luận số 116-TB/TW ngày 27/11/2012 của Bộ Chính trị, cơ sở đào tạo của Tòa án nhân dân tối cao sẽ trình cấp có thẩm quyền quyết định thành lập Học viện Tòa án để thực hiện nhiệm vụ đào tạo pháp luật bậc đại học và sau đại học, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ Tòa án, đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao để tuyển dụng, bổ nhiệm vào các chức danh tư pháp trong hệ thống Tòa án nhân dân, đào tạo, bồi dưỡng các chuyên gia trong lĩnh vực xét xử, lãnh đạo quản lý trong Tòa án nhân dân và nghiên cứu khoa học xét xử; Củng cố, tăng cường năng lực cho Cơ quan Thanh tra Tòa án nhân dân, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ công tác thanh tra; Nghiên cứu thành lập Vụ Quản lý Tòa án nhân dân địa phương, giúp Chánh án TANDTC chỉ đạo, lãnh đạo hệ thống TAND các cấp kịp thời và hiệu quả.–  Về sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử đối với Tòa án nhân dân tối cao.Về sự lãnh đạo của Đảng và sự giám sát của cơ quan dân cử, đề nghị giữ nguyên như hiện nay: Tòa án nhân dân tối cao chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong việc tổ chức triển khai thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Trung ương và chịu sự giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao.Thực hiện đổi mới về tổ chức và hoạt động của hệ thống Toà án nhân dân các cấp theo quan điểm, chủ trương của Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, phù hợp với nội dung quy định của Hiến pháp mới sửa đổi như  đã trình bày ở phần trên, cần thiết phải khẩn trương nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình triển khai thực hiện đổi mới, cải cách hệ thống Tòa án.Trên đây là một số đề xuất về mô hình tổ chức Tòa án nhân dân theo định hướng của Đảng về cải cách tư pháp, phù hợp với tinh thần của Hiến pháp mới, bảo đảm hoạt động của Tòa án thể hiện rõ nét bản chất dân chủ, của dân, do dân, vì dân, phù hợp với yêu cầu xây dựng và củng cố Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đáp ứng yêu cầu bảo vệ công lý, quyền con người, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, Nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, đồng bộ cả về kinh tế và chính trị, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phát triển về mọi mặt và chủ động hội nhập quốc tế.

Tác giả bài viết: toaan.gov.vn