Vướng mắc, bất cập khi thực hiện chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện và giải pháp khắc phục

51

Chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện trong Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 (sau đây viết gọn là BLHS năm 2015) là chế định hoàn toàn mới, tiến bộ, thể hiện chính sách hình sự nhân đạo của Nhà nước ta đối với các phạm nhân được quy định tại Điều 66 và Điều 106 BLHS năm 2015; các quy định này nhằm tạo cho phạm nhân có thái độ cải tạo tốt và đủ điều kiện được xem xét rút ngắn thời gian phải chấp hành hình phạt tù tại Trại giam, Trại tạm giam, Nhà tạm giữ Công an cấp huyện (sau đây gọi chung là cơ sở giam giữ) có cơ hội được sớm trở về với gia đình, cộng đồng. Đồng thời cũng là động lực cho các phạm nhân khác tích cực lao động, học tập, cải tạo tốt để hưởng chính sách khoan hồng của Nhà nước.

Để thực hiện chế định này, Điều 368 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sau đây viết gọn là BLTTHS năm 2015) quy định thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện. Triển khai thi hành quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện, liên ngành Tư pháp Trung ương ban hành Thông tư liên tịch số 04/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 09/02/2018 của Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao quy định phối hợp thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện (sau đây viết gọn là Thông tư liên tịch số 04); Bộ Công an ban hành Thông tư số 12/2018/TT-BCA ngày 07/5/2018 quy định thực hiện tha tù trước thời hạn có điều kiện trong Công an nhân dân (sau đây viết gọn là Thông tư số 12/2018); Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 66 và Điều 106 BLHS năm 2015 về tha tù trước thời hạn có điều kiện (sau đây viết gọn là Nghị quyết số 01/2018); Tòa án nhân dân tối cao ban hành Công văn số 160/TANDTC-PC ngày 23/7/2018 về việc ban hành một số biểu mẫu về tha tù trước thời hạn có điều kiện (Mẫu 01/HS – Quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; Mẫu số 02/HS – Quyết định hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện) và Công văn số 170/TANDTC-PC ngày 01/8/2018 về việc thực hiện qui định của BLHS năm 2015 và Nghị quyết số 01/2018 về tha tù trước thời hạn có điều kiện (sau đây viết gọn là Công văn số 160/TANDTC-PC và Công văn số 170/TANDTC-PC).

Điều 66 BLHS năm 2015 quy định:

1.Người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà đã được giảm thời hạn chấp hành án phạt tù hoặc người đang chấp hành án phạt tù về tội phạm ít nghiêm trọng có thể được tha tù trước thời hạn khi có đủ các điều kiện sau đây:

  1. a) Phạm tội lần đầu;
  2. b) Có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt;
  3. c) Có nơi cư trú rõ ràng;
  4. d) Đã chấp hành xong hình phạt bổ sung là hình phạt tiền, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại và án phí;

đ) Đã chấp hành được ít nhất là một phần hai mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 15 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn.

Trường hợp người phạm tội là người có công với cách mạng, thân nhân của người có công với cách mạng, người đủ 70 tuổi trở lên, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi thì phải chấp hành được ít nhất là một phần ba mức phạt tù có thời hạn hoặc ít nhất là 12 năm đối với trường hợp bị phạt tù chung thân nhưng đã được giảm xuống tù có thời hạn;

  1. e) Không thuộc một trong các trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều này.
  2. Không áp dụng quy định của Điều này đối với người bị kết án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
  3. a) Người bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XIII, Chương XXVI, Điều 299 của Bộ luật này; người bị kết án 10 năm tù trở lên về một trong các tội quy định tại Chương XIV của Bộ luật này do cố ý hoặc người bị kết án 07 năm tù trở lên đối với một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 248, 251 và 252 của Bộ luật này;
  4. b) Người bị kết án tử hình được ân giảm hoặc thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 40 của Bộ luật này.”.
  5. Theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người bị kết án. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù.
  6. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính 02 lần trở lên trong thời gian thử thách, thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với người đó và buộc họ phải chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành.

Nếu người đó thực hiện hành vi phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp với phần hình phạt tù chưa chấp hành của bản án trước theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

  1. Người được tha tù trước thời hạn có điều kiện đã chấp hành được ít nhất là một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan thi hành án hình sự có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

Thực tiễn áp dụng các quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện như đã nêu trên đã phát sinh một số khó khăn, vướng mắc như sau:

Thứ nhất: Khó khăn trong việc xác định thời hạn thử thách.

BLHS năm 2015 quy định người được áp dụng biện pháp tha tù trước thời hạn có điều kiện phải chịu một thời gian thử thách. Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù (Khoản 3 Điều 66 BLHS năm 2015). Thời gian còn lại của hình phạt tù được xác định bằng mức án tù theo bản án đã tuyên trừ đi thời gian thực tế đã chấp hành án và thời gian được giảm chấp hành án (nếu có). Như vậy, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là thời điểm người phải chấp hành án chính thức được trả tự do từ cơ sở giam giữ, tức là ngày cơ sở giam giữ tổ chức công bố quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án cho phạm nhân biết và tiến hành tha phạm nhân được tha tù trước hạn có điều kiện. Nhưng tại mục 2 Công văn số 170/TANDTC-PC quy định như sau: “Thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách kể từ ngày quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật”.

Như vậy, việc xác định thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách theo hướng dẫn của Tòa án tối cao và quy định của BLHS và BLTTHS năm 2015 chưa có sự thống nhất với nhau, từ đó sẽ dẫn đến việc hiểu và áp dụng quy định này của các cơ quan tư pháp ở địa phương không thống nhất và điều này sẽ ảnh hướng rất lớn đến quyền lợi của các phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện. Bởi vì trong thời gian thử thách, có 02 hậu quả pháp lý xảy ra nếu phạm nhân được tha tù vi phạm (Khoản 4 Điều 66 BLHS năm 2015), đó là:

+ Một là, phạm nhân được tha tù có điều kiện nếu cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên hoặc bị xử phạt vi phạm hành chính từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể hủy bỏ quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện đối với họ và buộc họ phải quay trở lại trại giam để chấp hành phần hình phạt tù còn lại chưa chấp hành mà không được xem xét trừ thời gian đã được tạm tha vào thời gian thi hành án phạt tù còn lại.

+ Hai là, trường hợp phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện thực hiện hành vi phạm tội mới. Trong trường hợp này, hậu quả là người được tha tù bị hủy bỏ biện pháp tha tù có điều kiện. Tòa án xét xử buộc người đó chấp hành hình phạt của bản án mới và tổng hợp hình phạt của bản án mới với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước theo quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án tại Điều 56 của BLHS năm 2015.

Thứ hai: Việc thả phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Khoản 9 Điều 368 BLTTHS năm 2015 quy định: “Ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định này và thực hiện các thủ tục thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện”.

Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 12/2018 của Bộ Công an quy định:

“Ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án cho phạm nhân đang chấp hành án biết và tiến hành thả phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

Giám thị trại giam, trại tạm giam, Thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện cấp giấy chứng nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện, quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của tòa án; cấp tiền tàu xe, quần áo và các chế độ như đối với phạm nhân chấp hành xong án phạt tù”.

Từ các quy định nêu trên có thể thấy, cơ sở giam giữ phải tiến hành thả phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện vào ngày tổ chức công bố quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án. Tuy nhiên, ngày cơ sở giam giữ tổ chức công bố quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án cũng chưa được xác định cụ thể vì: Điều 368 BLTTHS năm 2015 quy định: Trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, Tòa án phải gửi quyết định cho phạm nhân, cơ quan đã lập hồ sơ đề nghị…, (Khoản 8) và ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định này và thực hiện các thủ tục thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện (Khoản 9). Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 12/2018 của Bộ Công an quy định: “Ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án cho phạm nhân đang chấp hành án biết và tiến hành tha phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện”. Như vậy ngày cơ sở giam giữ tổ chức công bố quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án phụ thuộc vào ngày Tòa án gửi quyết định này (dao động trong hạn 03 ngày) và cụm từ ngay sau khi, tức vào ngày nhận quyết định hoặc ngày kế tiếp sau đó (do cơ sở giam giữ xác định). Dù tính thế nào đi chăng nữa thì ngày công bố và tha phạm nhân vẫn ngắn hơn thời gian có hiệu lực pháp luật của quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 337 BLTTHS năm 2015, đối với các quyết định của Tòa án bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì thời hạn kháng nghị là 07 ngày của Viện kiểm sát cùng cấp và 15 ngày của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp, do vậy thời gian có hiệu lực pháp luật của quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện là sau 15 ngày kể từ ngày ký, ban hành quyết định.

Nếu cơ sở giam giữ tiến hành tha ngay phạm nhân sau khi nhận quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, trong khi quyết định này chưa có hiệu lực pháp luật thì khó khăn, vướng mắc sẽ xảy ra khi quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện bị kháng nghị và Tòa cấp trên chấp nhận kháng nghị, hủy quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện thì thủ tục bắt lại trong trường hợp này chưa được quy định.

Để đảm bảo việc xét tha tù trước thời hạn có điều kiện được khách quan, công bằng, đúng quy định của pháp luật và giảm thiểu các vướng mắc như đã nêu trên, tôi mạnh dạn đề xuất như sau:

– Kiến nghị liên ngành tư pháp Trung ương, có ý kiến đề nghị Quốc hội sửa đổi Khoản 9 Điều 368 theo hướng: Bỏ cụm từ “Ngay sau khi nhận được quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện, …” thay bằng cụm từ “Vào ngày quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật, …”.

Điều 368. Thủ tục xét tha tù trước thời hạn có điều kiện

  1. Vào ngày quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định này và thực hiện các thủ tục thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện. Trong thời gian thử thách mà người được tha tù trước thời hạn có điều kiện không vi phạm các quy định tại khoản 4 Điều 66 của Bộ luật hình sự thì khi hết thời gian thử thách, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi đã quản lý họ có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù.

– Kiến nghị Bộ Công an sửa đổi đoạn đầu Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 12/2018, như sau:

Vào ngày quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện có hiệu lực pháp luật, cơ sở giam giữ phải tổ chức công bố quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện của Tòa án cho phạm nhân đang chấp hành án biết và tiến hành tha ngay phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện”.

Bổ sung vào đoạn cuối của Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 12/2018, như sau:

Trong trường hợp quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện bị kháng nghị nhưng Tòa án cấp trên bác kháng nghị hoặc quyết định không chấp nhận tha tù trước thời hạn có điều kiện bị kháng nghị nhưng Tòa án cấp trên chấp nhận kháng nghị thì ngay sau khi nhận được quyết định phúc thẩm về việc tha tù trước thời hạn có điều kiện, cơ sở giam giữ phải thông báo cho phạm nhân đang chấp hành án biết và tiến hành tha ngay phạm nhân được tha tù trước thời hạn có điều kiện.

– Kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi Công văn số 160/TANDTC-PC như sau:

Trong quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện Tòa án ghi: Thời gian thử thách bằng thời gian còn lại của hình phạt tù, thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách kể từ ngày cơ sở giam giữ tiến hành tha phạm nhân được tha tù trước hạn có điều kiện.

Rất mong ý kiến trao đổi của đồng nghiệp. Xin trân trọng cảm ơn!

Tác giả:Võ Thị Tám-Thẩm phán TAND huyện Duy Xuyên